Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không an toàn - Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

19/12/2018
Từ những năm 50 của thế kỷ trước cho đến nay, trong hệ thống các biện pháp bảo vệ thực vật (BVTV) việc sử dụng thuốc BVTV vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng, đôi khi còn là yếu tố quyết định trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, ngày càng xuất hiện nhiều tình trạng bà con nông dân lạm dụng thuốc BVTV, gây nhiều hệ lụy cho sản xuất, môi trường, môi sinh, sức khỏe cộng đồng, đe dọa sự phát triển bền vững của nông nghiệp.

Thực trạng sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam

Thuốc BVTV có các ưu điểm là tác động nhanh, triệt để, dễ sử dụng nên có thể nhanh chóng hạn chế, dập dịch, đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần quan trọng hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây nên, nâng cao lợi nhuận cho nhà nông. Do vậy, có thể nói, thuốc BVTV giữ vai trò không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam trước đây, hiện nay và cả trong tương lai.

Tuy nhiên, ở nước ta tình trạng sử dụng thuốc quá nhiều, quá mức cần thiết; sử dụng thuốc khi thiếu hiểu biết về kỹ thuật; sử dụng thuốc quá liều lượng khuyến cáo, tùy tiện hỗn hợp các loại thuốc trừ sâu bệnh; sử dụng không tuân thủ thời gian cách ly... còn diễn ra phổ biến. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do việc xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách quản lý và kỹ thuật, một phần do chủ quan từ phía người sản xuất nông nghiệp.

Trên thực tế, “Sử dụng thuốc BVTV hiệu quả và an toàn” chỉ mang tính kỹ thuật vì chưa đề cập nhiều đến vấn đề quản lý, đặc biệt là mục tiêu giảm sử dụng thuốc BVTV, còn “giảm nguy cơ của thuốc BVTV – mối nguy cho an toàn thực phẩm” là phải có hệ thống tổng thể của nhiều biện pháp quản lý, kinh tế, kỹ thuật, nó bao gồm các nội dung: Thắt chặt quản lý đăng ký, xuất nhập khẩu, sản xuất kinh doanh thuốc BVTV, quản lý xả thải bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trên đồng ruộng; giảm lượng thuốc sử dụng; thay đổi cơ cấu và loại thuốc; sử dụng an toàn và hiệu quả; giảm lệ thuộc vào thuốc BVTV thông qua việc áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp, sử dụng thiên địch, sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học.

Tác động bất lợi của việc sử dụng thuốc BVTV thiếu trách nhiệm

Việc sử dụng thuốc BVTV thiếu trách nhiệm gây ra những hệ lụy xấu. Thuốc gây độc hại cho người và gia súc, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng, làm ô nhiễm môi trường, diệt cả côn trùng và vi sinh vật có ích, từ đó tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển, bùng phát mạnh hơn. Dùng thuốc không đúng kỹ thuật, sẽ nhanh chóng tạo nên tính kháng thuốc của sâu bệnh; thuốc BVTV nhiều khi còn để lại dư lượng độc hại trên nông sản làm ngộ độc người sử dụng, giảm chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản trên. Sử dụng thuốc BVTV càng nhiều, càng rộng, càng không đúng kỹ thuật thì những nhược điểm, hạn chế, tiêu cực của thuốc càng lớn, càng nguy hại, nhất là chưa quản lý được việc vứt bỏ bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trên đồng ruộng, gây ô nhiễm và mất an toàn vệ sinh thực phẩm.

Một số giải pháp nâng cao ý thức của người sử dụng thuốc BVTV

Giải pháp thứ nhất: cần định hướng chiến lược nhằm nâng cao nhận thức của người kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV, trong đó cần nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc BVTV cả về kỹ thuật, sản xuất kinh tế, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng.

Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức, hiểu biết và trách nhiệm trước xã hội của người kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV. Việc sử dụng không chỉ đúng loại thuốc, đúng liều lượng, đúng kỹ thuật mà còn phải xử lý bao bì chứa, đựng thuốc BVTV đúng cách, đúng quy trình, tránh tình trạng vứt bỏ bừa bãi bao bì đã qua sử dụng trên đồng ruộng như hiện nay. Cần xây dựng lộ trình thu gom, xử lý bao bì đã qua sử dụng từ nay đến năm 2020 theo hướng: Khuyến khích nhà sản xuất thuốc/công ty thuốc BVTV làm ra các sản phẩm có thể tái sử dụng bao bì, thuận tiện cho người sử dụng dễ thu gom, đổi trả; khuyến khích người bán/người cung cấp (bán lẻ) thuốc BVTV có chính sách trợ giá/đổi trả… để người mua có ý thức đổi trả/thu gom bao bì đã qua sử dụng; khuyến khích người mua/sử dụng, thực hiện thu gom/tái sử dụng/tái chế bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng ở Việt Nam, đưa về cửa hàng/nơi đã cung ứng thuốc BVTV.

Giải pháp thứ hai: Trên cơ sở Luật Bảo vệ thực vật và Kiểm dịch thực vật, cần xây dựng nghị định và thông tư riêng về quản lý thuốc BVTV, trong đó cần có quy định cụ thể về xây dựng, ban hành và sử dụng danh mục thuốc BVTV, quản lý việc xả thải vỏ/bao bì thuốc BVTV đã qua sử dung theo định hướng: Hạn chế số lượng hoạt chất trong danh mục, hạn chế các loại hoạt chất hỗn hợp, hạn chế số tên sản phẩm cho 1 hoạt chất;

Hạn chế đăng ký sản phẩm mới cũng như nhập khẩu thuốc BVTV. Với mỗi sản phẩm đăng ký cần đánh giá hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả về môi trường, an toàn thực phẩm, hiệu quả kinh tế của các hoạt chất lẫn phụ gia;

Hạn chế đăng ký sản phẩm thuộc nhóm độc I, II có thời gian cách ly dài, có độc tính cao với ký sinh thiên địch và cá;

Xem xét tăng lệ phí khảo nghiệm và đăng ký;

Đổi mới cơ cấu các nhóm thuốc trong danh mục, tăng tỷ lệ thuốc sinh học lên 30 - 40% trong 5 - 7 năm tới, giảm mạnh các loại thuốc thuộc nhóm độc I và II;

Thuốc BVTV nhập khẩu phải có đầy đủ xác nhận xuất xứ. Xuất xứ phải phù hợp với hồ sơ đăng ký. Tăng thuế nhập khẩu với các loại thuốc thuộc diện không khuyến khích sử dụng, miễn/giảm thuế đối với loại thuốc khuyến khích sử dụng, thân thiện môi trường, ít độc hại.

Cần thực hiện nguyên tắc “có vào - có ra danh mục” để định kỳ sàng lọc sản phẩm. Định kỳ hàng năm rà soát lại sản phẩm, loại bỏ các loại thuốc không hoặc chưa được sử dụng trên thị trường, thuốc đã bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế;

Xây dựng các danh mục khuyến cáo sử dụng từ Trung ương đến từng địa phương giúp người nông dân lựa chọn đúng.

Giải pháp thứ ba: Thống nhất việc xây dựng ban hành bộ tài liệu huấn luyện về quản lý, sản xuất kinh doanh và sử dụng, thu gom bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng, chương trình huấn luyện các quy trình kỹ thuật ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới. Coi trọng tập huấn cho cán bộ kỹ thuật, nông dân và đại lý bán thuốc.

Cần nhận thức rằng, việc quản lý sử dụng thuốc BVTV và vứt bỏ bao bì thuốc BVTV đã qua sử dụng trên đồng ruộng hiện nay ở nước ta là một bài toán khó nhưng cần được giải quyết càng sớm càng tốt để bảo vệ môi trường, môi sinh, sức khỏe cộng đồng và xây dựng nền sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững.

Nguyễn Ánh Tuyết

Cục Bảo vệ thực vật


(Nguồn tin: Theo Tạp chí An toàn vệ sinh lao động, số 11/2018)