Tìm cơ chế để các quỹ khoa học và công nghệ hoạt động hiệu quả (Tiếp theo và hết)

03/10/2019
Bài 2 Cần chính sách đặc thù Do không có cơ chế đặc thù cho nên Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted) và Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia (Natif) không thể thực hiện hết chức năng quy định tại điều lệ quỹ. Hầu hết hoạt động của quỹ chỉ thực hiện tài trợ cho các nhiệm vụ, dự án KH và CN, dẫn tới tình trạng nhiều nhiệm vụ do quỹ quản lý gặp vướng mắc trong hoạt động, giải ngân hoặc bị trùng lặp về mục tiêu, đối tượng, nhiệm vụ chi của các chương trình KH và CN quốc gia.


Các nhà khoa học kiểm tra sản phẩm tại phòng nghiên cứu của Công ty cổ phần dược thảo Thiên Phúc.

Ngày 12-8 vừa qua, Ðoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có Báo cáo số 343/BC-ÐGS về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước (NSNN) giai đoạn 2013-2018. Theo đó, đoàn giám sát đã đề nghị thực hiện sáp nhập đối với các quỹ trùng lặp về mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức hoạt động, đối tượng phục vụ hoặc trùng lặp về đối tượng, hoặc trùng với nhiệm vụ chi của NSNN và thực hiện cơ cấu lại hoạt động với một số quỹ trong đó có Nafosted và Natif. Kết quả giám sát cho thấy, nguồn thu của hai quỹ nêu trên chủ yếu đến từ kinh phí NSNN hỗ trợ cả về vốn điều lệ và kinh phí hoạt động. Các quỹ không có khả năng tài chính độc lập, hằng năm vẫn sử dụng một phần kinh phí được NSNN cấp bổ sung vốn điều lệ để chi hoạt động thường xuyên. Các nhiệm vụ lại trùng lặp với nhiệm vụ chi của NSNN đang thực hiện thông qua các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia. Trong khi đó, địa vị pháp lý của hai quỹ như là một đơn vị sự nghiệp, 90% các hoạt động hỗ trợ, tài trợ là không hoàn lại hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn kinh phí NSNN cấp. Các nhiệm vụ, hoạt động tín dụng không thể thực hiện được do các cơ chế ràng buộc về việc bảo toàn và phát triển nguồn vốn NSNN, trong khi các nhiệm vụ KH và CN cần tài trợ, cho vay, bảo lãnh vốn vay có mức độ rủi ro cao, nhất là đối với các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, ứng dụng công nghệ mới… Do đó, Ðoàn giám sát đề nghị xem xét chuyển các nhiệm vụ chi hỗ trợ, tài trợ không hoàn lại của quỹ thành nhiệm vụ chi NSNN; có lộ trình cắt giảm dần, tiến tới dừng việc bố trí chi NSNN hỗ trợ hoạt động của quỹ theo lộ trình tự chủ về tài chính quỹ.

Nhưng theo đánh giá từ các nhà khoa học, tại các quốc gia phát triển trên thế giới đều đầu tư ngân sách cho các quỹ dành cho nghiên cứu khoa học, Việt Nam cần theo thông lệ quốc tế, cho nên cần có các quỹ như Nafosted và Natif nhằm làm nhiệm vụ đầu tư có tính đặc thù cho nghiên cứu khoa học. TS Nguyễn Phương, Phó Giám đốc Trung tâm ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp khoa học công nghệ (Viện Ứng dụng công nghệ, Bộ KH và CN) cho rằng, thực tế các doanh nghiệp của Việt Nam còn nhỏ bé về quy mô, doanh số và thị trường, cho nên thường không có đủ nguồn lực tài chính để đầu tư đổi mới công nghệ. Do đó, tài trợ từ Nhà nước có vai trò quan trọng, vừa là cú huých, vừa là điểm xuất phát cho quá trình đổi mới công nghệ để tăng năng suất, nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp. Việc Nhà nước đồng hành cùng doanh nghiệp sẽ giúp hình thành một lực lượng doanh nghiệp trong nước mạnh về công nghệ và đổi mới sáng tạo, giúp nền kinh tế phát triển bền vững. Còn theo Phó Viện trưởng Viện Kỹ thuật nhiệt đới (Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam) Lê Trọng Lư, ở các nước trên thế giới, các quỹ hỗ trợ cho KH và CN đều có các hình thức cho vay, hỗ trợ với đổi mới công nghệ, nhưng riêng với nghiên cứu cơ bản đều là đầu tư không hoàn lại. Nếu yêu cầu quỹ đầu tư cho nghiên cứu cơ bản phải bảo toàn nguồn vốn trừ khi quốc gia đó không làm nghiên cứu cơ bản.

Tiến sĩ Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng KH và CN cho rằng, việc thành lập hai quỹ theo quy định của Luật KH và CN và Luật Chuyển giao công nghệ là hoàn toàn cần thiết để thực hiện đầu tư có tính đặc thù cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R & D). Do chưa có cơ chế vận hành quỹ dành cho KH và CN, cho nên việc lập hai quỹ này có thể coi là bước thí điểm, tồn tại song song việc tài trợ cho các nhiệm vụ, dự án KH và CN từ các Chương trình KH và CN do các bộ, ngành quản lý theo phương thức cũ, dẫn tới những bất cập như báo cáo của Ðoàn giám sát của Quốc hội đánh giá. Nếu tiếp tục hoạt động và quản lý như các chương trình KH và CN thì quỹ không có vai trò và tiếp tục thiếu hiệu quả. Chính vì vậy, Bộ KH và CN cần tái cấu trúc lại, để khi hai quỹ này đi vào hoạt động ổn định và phát huy được hiệu quả thì từng bước chuyển toàn bộ các đề tài nghiên cứu của các chương trình cấp nhà nước, cấp bộ về các quỹ này quản lý; trong đó cần tách bạch chức năng của hai quỹ để không bị chồng chéo, trùng lặp. Quỹ Nafosted chủ yếu tài trợ cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, nhiệm vụ liên quan đến hoạt động phát triển nhân lực KH và CN trình độ cao. Còn Natif chủ yếu hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp KH và CN, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, để đổi mới công nghệ… thông qua cho vay vốn ưu đãi, bảo lãnh vốn vay, hỗ trợ lãi suất vay và tài trợ không hoàn lại các nội dung R & D của các dự án đổi mới công nghệ. Khi đó, các quỹ sẽ đảm nhiệm toàn bộ hoạt động sự nghiệp của các nhiệm vụ KH và CN giao cho các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thực hiện. Các bộ là cơ quan quản lý nhà nước, đưa ra chiến lược phát triển, cơ chế chính sách… chứ không trực tiếp quản lý các nhiệm vụ, dự án KH và CN như hiện nay.

Nhiều nhà khoa học cũng cho rằng, đã đến lúc Chính phủ cần có đánh giá về hiệu quả hoạt động của hai quỹ, giao Bộ KH và CN, Bộ Tài chính khẩn trương xây dựng cơ chế đặc thù, ban hành lại Ðiều lệ tổ chức và hoạt động, tiến tới giao toàn bộ các nhiệm vụ của chương trình KH và CN các cấp cho các quỹ quản lý. Quỹ Nafosted đã hoạt động tương đối ổn định, được cộng đồng khoa học trong nước và quốc tế đánh giá cao, chỉ cần điều chỉnh phương thức giao vốn hằng năm và giao quyền tự chủ cao hơn nữa cho quỹ. Riêng quỹ Natif cần có hướng dẫn chi tiết về quản lý vốn vay ưu đãi, bảo lãnh vốn vay và hỗ trợ lãi suất vay, huy động nguồn hỗ trợ từ doanh nghiệp và các tổ chức cá nhân, tỷ lệ sử dụng vốn điều lệ cho các hình thức hỗ trợ vốn, cơ chế tự chủ để vừa bảo toàn vốn điều lệ, vừa nâng cao năng lực tài trợ cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ thành công.

TS Nguyễn Quân cho rằng, các quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH và CN cần có cơ chế đặc thù, vì bản chất hoạt động R & D là sáng tạo, độ mạo hiểm cao, tỷ lệ thành công thấp, nhưng khi thành công thì hiệu quả rất lớn. Chính vì vậy, để các quỹ hoạt động hiệu quả cần áp dụng cơ chế quỹ với ba đặc trưng cơ bản: Một là, vốn điều lệ được bố trí ngay từ đầu năm ngân sách, không phụ thuộc vào danh mục nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước và việc cấp phát vốn thực hiện theo tiến độ phê duyệt dự án; hai là, việc quyết toán của các dự án theo hợp đồng, không quyết toán theo năm tài chính; ba là, hằng năm kinh phí chưa sử dụng hết được tự động chuyển nguồn sang năm sau. Chỉ có như vậy thì mới giúp các quỹ hoạt động hiệu quả, theo đúng như mô hình hiện nay của các nước phát triển và đạt được kỳ vọng của Chính phủ khi thành lập các quỹ hỗ trợ cho hoạt động KH và CN.

NHẬT MINH

(Nguồn tin: Báo điện tử Nhân Dân)