Nghiên cứu khoa học về An toàn, vệ sinh lao động: Những cơ hội và thách thức trong tình hình mới

05/10/2018
Viện Khoa học An toàn và vệ sinh lao động trực thuộc Tổng LĐLĐ Việt Nam là viện quốc gia đầu ngành, có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phục vụ quản lý nhà nước về ATVSLĐ, bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cho NLĐ và bảo vệ môi trường. Nhiều năm qua, Viện đã có những đóng góp tích cực, khẳng định vai trò của Tổng Liên đoàn trong công tác ATVSLĐ ở nước ta. Trước sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, tác động đến nhiều ngành kinh tế, đồng thời tác động đến môi trường, điều kiện làm việc của nhiều NLĐ, công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực ATVSLĐ cũng cần phải có những định hướng mới.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI Công đoàn Việt Nam giai đoạn 2013-2018 trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ (KHCN) về ATVSLĐ, Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động (nay là Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động) đã xác định những vấn đề trọng tâm cần tập trung nghiên cứu, từ đó xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện hiệu quả.

 Những vấn đề được Viện tập trung thực hiện:

- Tăng cường và bổ sung các nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bảo hộ lao động (BHLĐ), góp phần xây dựng các chế độ, chính sách về BHLĐ;

- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng các giải pháp KHKT-BHLĐ, BVMT và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất;

- Chú trọng việc nghiên cứu các giải pháp phòng ngừa TNLĐ, BNN; nâng cao văn hóa an toàn trong sản xuất;

- Chú trọng nghiên cứu BHLĐ cho các ngành nghề có nguy cơ TNLĐ và BNN cao như xây dựng nhà cao tầng, khai thác mỏ hầm lò, hóa chất và vật liệu mới v.v. đồng thời, phải quan tâm đầy đủ các vấn đề của lao động đặc thù như: lao động nữ, lao động của các đối tượng yếm thế, khuyết tật, lao động của ngư dân trên biển, lao động trong quốc phòng v.v.

Bên cạnh đó, Viện cũng quan tâm đến vấn đề cải thiện điều kiện làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong các làng nghề; Nghiên cứu nội dung phương pháp hiệu quả để tuyên truyền, huấn luyện, phổ biến các kiến thức về BHLĐ, để tổ chức vận động quần chúng tham gia phong trào hoạt động về BHLĐ, phát huy vai trò của tổ chức CĐ trong BHLĐ.

Từ những vấn đề KHCN về ATVSLĐ trọng tâm đã được xác định, đồng thời được Tổng Liên đoàn giao là đầu mối thực hiện chương trình phối hợp về khoa học và công nghệ giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Tổng LĐLĐ Việt Nam, trong thời gian qua, Viện khoa học ATVSLĐ đã chủ trì xây dựng và thực hiện 09 đề tài thuộc Chương trình phối hợp; xây dựng và tổ chức thực hiện 07 đề tài KHCN thuộc “Chương trình KHCN trọng điểm về ATVSLĐ 2014 -2020”của Tổng LĐLĐ Việt Nam; chủ trì thực hiện 39 đề tài, nhiệm vụ KHCN cấp Bộ. Để có cơ sở khoa học kiến nghị với Nhà nước về bữa ăn ca cho NLĐ, Tổng liên đoàn đã kiến nghị Bộ KH&CN giao Viện khoa học ATVSLĐ chủ trì thực hiện nhiệm vụ KHCN cấp quốc gia  (ĐTĐLCN.06-15): “Đánh giá gánh nặng lao động, nhu cầu dinh dưỡng, khẩu phần và xây dựng bộ tiêu chí về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm bữa ăn ca cho NLĐ một số ngành nghề”. Sản phẩm của các đề tài, nhiệm vụ KHCN về ATVSLĐ của Viện giai đoạn 2013-2018 khá đa dạng từ những cơ sở khoa học phục vụ quản lý nhà nước về ATVSLĐ, các sản phẩm công nghệ, hệ thống kỹ thuật...

Một số kết quả sản phẩm nổi bật góp phần vào nhiệm vụ quản lý nhà nước có thể kể đến như: Cơ sở khoa học văn hóa an toàn và mô hình cơ sở văn hóa an toàn (VHAT) tại cơ sở sản xuất là sản phẩm của đề tài“ Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và xây dựng mô hình cơ sở văn hóa an toàn trong sản xuất công nghiệp ở Việt Nam”. Sản phẩm “Phương pháp đánh giá, phân loại điều kiện lao động theo gánh nặng lao động tổng hợp  VNIOSH-2017” của đề tài: “Nghiên cứu điều tra, đánh giá và dự báo diễn biến điều kiện lao động trong một số ngành sản xuất công nghiệp giai đoạn đến năm 2020” đã được bàn giao cho Bộ LĐ – TB và XH làm cơ sở xem xét xây dựng Thông tư qui định về tiêu chuẩn phân loại lao động theo điều kiện lao động; các kết quả khác như: khung danh mục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ATVSLĐ; dự thảo các qui chuẩn, tiêu chuẩn về trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân, giới hạn khối lượng nâng nhấc vật nặng thủ công cho lao động nữ, tiêu chuẩn chiếu sáng tự nhiên trong công nghiệp, phương pháp, qui trình phân tích chất lượng môi trường, giám sát sinh học…; phương pháp đánh giá độ an toàn của các hệ thống kỹ thuật - công nghệ; phương pháp đánh giá tổng quát rủi ro sức khỏe nghề nghiệp, hệ thống tiêu chí đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp thực hiện pháp luật ATVSLĐ và Bảo vệ môi trường; đề tài “Xây dựng Atlat nhân trắc người Việt Nam trong độ tuổi lao động giai đoạn hiện nay”; bộ công cụ đánh giá và đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ TNLĐ trong thi công xây dựng nhà cao tầng …là những công cụ hữu hiệu trong quản lý ATVSLĐ ở doanh nghiệp.

Nhiều sản phẩm của các đề tài nghiên cứu là các thiết bị hệ thống kỹ thuật có hiệu quả cao trong cải thiện môi trường và điều kiện lao động như hệ thống ống dẫn ánh sáng tự nhiên tại phân xưởng sản xuất thiết bị điện – điện tử, Nhà máy sản xuất biến thế ABB của Thụy Điển tại Ngọc Hồi – Hà Nội là sản phẩm của đề tài “Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp chiếu sáng tự nhiên cho các công trình công nghiệp nhằm tạo lập môi trường ánh sáng tiện nghi cho NLĐ và góp phần sử dụng tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường”; cụm cấp nước sạch quy mô nhỏ cho khu vực nông thôn, miền núi; thiết bị xử lý H2S trong khí thải công nghiệp; thiết bị xử lý nước thải nguyên khối sử dụng màng sinh học lơ lửng (MBBR); vòi phun sương nguyên lý sủi bọt để dập bụi trong chế biến đá xây dựng; công nghệ oxy hóa hoàn toàn toluen bằng vật liệu xúc tác ở nhiệt độ thấp; xử lý các hợp chất dung môi hữu cơ bằng ion hóa trong các phân xưởng in;…

Có những sản phẩm nghiên cứu là các loại phương tiện bảo vệ cá nhân như: mũ an toàn công nghiệp chống nóng phù hợp với điều kiện lao động ngoài trời ở Việt Nam; đế giầy BHLĐ chịu xăng, dầu, mỡ bằng hỗn hợp (blend) cao su acrylonitric butadien (NBR) và nhựa nhiệt dẻo polypropylen (PP); hệ thống thiết bị đánh giá chứng nhận hợp quy bộ lọc bụi của phương tiện bảo vệ cơ quan hô hấp; hệ thống đánh giá hợp chuẩn một số bộ lọc của mặt nạ, bán mặt nạ phòng độc; hệ thống đánh giá hợp chuẩn một số phương tiện chống rơi ngã cá nhân;…

Nhiều đề tài nghiên cứu đã tập trung vào việc nghiên cứu phát hiện BNN, đánh giá, dự báo tác hại nghề nghiệp đến sức khỏe NLĐ, các giải pháp phòng ngừa, chăm sóc sức khỏe NLĐ như các đề tài:“Nghiên cứu thực trạng bệnh nhiễm độc Formaldehyde của NLĐ trong ngành chế biến gỗ, góp phần đề xuất vào danh mục bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm ở Việt Nam”; “Nghiên cứu thực trạng phơi nhiễm bụi hữu cơ và bệnh viêm phế nang dị ứng ngoại lai ở NLĐ ngành chế biến thức ăn chăn nuôi và sản xuất đồ gỗ, “Thực trạng ăn mòn răng ở công nhân tiếp xúc với axit”; “Mức độ phơi nhiễm niken và những triệu chứng bệnh lý đặc trưng ở NLĐ trong cơ sở mạ niken”; “Ngưỡng giám sát dung môi hữu cơ trong máu và nước tiểu ở nữ công nhân da giày”; “Ảnh hưởng mạn tính của benzen, toluen, xylen ở NLĐ tiếp xúc với nồng độ dưới tiêu chuẩn cho phép qua xét nghiệm một số chỉ số huyết học, chỉ số mARN CYP2E1 và sự biến đổi của gen CYP2E1”…;

Với việc lần đầu tiên chúng ta có Luật ATVSLĐ (hiệu lực thực hiện từ ngày 01/7/2016), hệ thống quy định pháp luật về ATVSLĐ đã ngày càng được hoàn thiện. Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về ATVSLĐ nói chung mà còn góp phần đẩy mạnh công tác nghiên cứu KHCN về ATVSLĐ nói riêng. Việc tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình hội nhập quốc tế thông qua các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương đặt ra thách thức cho Việt Nam tham gia và thực thi đầy đủ các công ước quốc tế, các chuẩn mực quốc tế về trách nhiệm xã hội, về bảo đảm ATVSLĐ, bảo vệ sức khỏe NLĐ…Chúng ta đã và đang tích cực tham gia vào các chương trình quốc tế về việc làm bền vững, phong trào thực hiện văn hóa an toàn, văn hóa phòng ngừa trong sản xuất…và đây thực sự vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với nước ta trong công tác ATVSLĐ.

Trong thời gian qua,  kinh tế nước ta đã có sự phát triển vượt bậc, công nghệ sản xuất cũng dần được thay thế, đổi mới, nhiều ngành sản xuất có trình độ công nghệ cao đã được đầu tư thông qua các dự án FDI vào nước ta. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ một mặt đã giúp tăng năng suất lao động,cải thiện chất lượng môi trường lao động; tự động hóa đã thực sự giải phóng sức lao động, giảm bớt gánh nặng lao động, công nghệ cao đã thực sự cải thiện đáng kể điều kiện làm việc cho NLĐ; tuy nhiên, mặt trái của công nghệ sản xuất dây chuyền, mức độ tự động hóa cao gây ra là sự đơn điệu, sự căng thẳng do nhịp độ sản xuất…các yếu tố độc hại nguy hiểm mới ngày càng nhiều (công nghệ nano, các hóa chất mới được coi là bí mật công nghệ xuất hiện và trở nên khó kiểm soát do không được công khai…) đây là những thách thức trong quản lý cũng như các giải pháp KHCN kiểm soát ATVSLĐ không chỉ ở riêng nước ta.

Việc thực hiện công tác kiểm soát nguy cơ rủi ro ATVSLĐ, phòng ngừa TNLĐ, BNN theo qui định của Luật ở nước ta còn nhiều hạn chế đòi hỏi cùng với việc đổi mới, thay thế công nghệ cũ, công nghệ có nguy cơ, rủi ro cao bằng công nghệ thân thiện môi trường, sử dụng vật liệu ít ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng…cần phải có những phải pháp KHCN ATVSLĐ hiệu quả nhằm kiểm soát nguy cơ, rủi ro ATVSLĐ, góp phần giảm thiểu TNLĐ và BNN bảo vệ sức khỏe NLĐ.

Trước xu thế đó, công tác nghiên cứu KHCN ATVSLĐ về cơ bản có nhiều thuận lợi do được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo. Đặc biệt, sau khi Luật KH&CN, Luật ATVSLĐ có hiệu lực, Chính phủ đã có quyết định số 17/2017/QĐ-TTg về tổ chức và hoạt động của Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động (Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động cũ) với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được bổ sung phù hợp với yêu cầu của Luật; trong những năm qua điều kiện nghiên cứu, cơ sở vật chất của Viện cũng được nhà nước đầu tư (hiện nay Viện có 05 phòng thí nghiệm thuộc hệ thống các phòng thí nghiệm VILAS), trình độ đội ngũ cán bộ nghiên cứu cũng ngày càng được nâng cao; tuy nhiên số đơn vị, số cán bộ khoa học nghiên cứu nhất là cán bộ nghiên cứu có trình độ cao trong lĩnh vực ATVSLĐ thực sự còn rất mỏng, đã gần 20 năm qua nghiên cứu KHCN về ATVSLĐ chưa được bố trí chương trình KHCN trọng điểm cấp quốc gia cũng đã hạn chế rất nhiều việc huy động nguồn lực từ các bộ ngành tham gia nghiên cứu KHCN ATVSLĐ.

Hiện nay vấn đề chủ động nghiên cứu đề xuất bổ sung các BNN được bảo hiểm, nhất là đối với các BNN có liên quan đến các ngành sản xuất, công nghệ mới; Nghiên cứu giải pháp kiểm soát rủi ro ATVSLĐ, góp phần giảm thiểu TNLĐ, BNN; Thực hiện văn hóa an toàn, văn hóa phòng ngừa tại các cơ sở sản xuất... được coi là những trọng tâm trong hoạt động KHCN ATVSLĐ trong thời gian tới.

Để có thể thực hiện có hiệu quả công tác này một số giải pháp cần được quan tâm thực hiện, đó là: Bộ KH&CN xem xét đưa chương trình nghiên cứu KHCN về ATVSLĐ vào trong kế hoạch Xây dựng chiến lược nghiên cứu KH&CN quốc gia giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn đến năm 2030 để có thể huy động đông đảo và mạnh mẽ nguồn lực của các bộ ngành tham gia nghiên cứu KHCN ATVSLĐ.

Cùng với đó, Nhà nước cần có đầu tư trọng tâm, trọng điểm cho các đơn vị, tổ chức KHCN trong lĩnh vực ATVSLĐ nhằm tăng cường cơ sở vật chất, năng lực nghiên cứu nhất là các phòng thí nghiệm, thử nghiệm trọng điểm giúp cho các đơn vị, tổ chức KHCN đủ năng lực triển khai có hiệu quả các đề tài nhiệm vụ nghiên cứu trong các lĩnh vực trọng tâm.

Công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực và các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực ATVSLĐ cần được tập trung quan tâm. Bên cạnh đó cần có chính sách, chế độ đãi ngộ thích đáng để thu hút nhân tài tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu KHCN về ATVSLĐ.

Một vấn đề không thể thiếu là đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm khai thác kinh nghiệm và nguồn lực của các chuyên gia và tổ chức quốc tế trong công tác ATVSLĐ nói chung và trong nghiên cứu KHCN ATVSLĐ nói riêng.

Những giải pháp này sẽ hỗ trợ, tạo điều kiện, tạo động lực và cơ hội để công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực ATVSLĐ tiếp tục phát huy thế mạnh, tiếp cận và giải quyết được những vấn đề mà thời đại đặt ra, phục vụ quản lý nhà nước về ATVSLĐ, góp phần bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cho NLĐ và bảo vệ môi trường.

TS. Đỗ Trần Hải 
Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam,
Viện trưởng Viện Khoa học AT&VSLĐ

(Nguồn tin: Theo Tạp chí An toàn vệ sinh lao động, số 9/2018)