Đánh giá rủi ro an toàn, vệ sinh lao động ở các cơ sở khai thác và chế biến đá

12/06/2020
Khai thác đá là một lĩnh vực hoạt động của khai thác khoáng sản. Khai thác và chế biến đá (KT&CBĐ) được coi là một trong những ngành gây nhiều TNLĐ và BNN nhất. Nguyên nhân chính là do các hoạt động khai thác đá luôn tiềm ẩn nhiều mối nguy, nếu không nhận diện và kiểm soát tốt, thì khả năng dẫn đến TNLĐ và BNN là rất cao.

Tai nạn lao động:

Hoạt động KT&CBĐ luôn tiềm ẩn nhiều mối nguy, nếu không kiểm soát hiệu quả, những mối nguy này có thể dẫn đến TNLĐ và BNN. Theo số liệu công bố của Bộ LĐTB&XH từ năm 2007 đến năm 2018, thì hàng năm ngành khai thác mỏ (trong đó có khai thác đá) chiếm trung bình 11,2% số vụ TNLĐ chết người và 11,9% số người chết của toàn ngành công nghiệp.

Sụt lở đất đá là mối nguy đặc trưng đầu tiên cần phải kể đến bởi lẽ hậu quả do nó gây ra là đặc biệt nghiêm trọng. Sụt lở đất đá thường xuất phát từ sự mất ổn định của khối đất đá tại mái dốc được hình thành do hệ thống kẽ nứt định hướng, các đứt gãy địa chất hoặc quá trình phong hoá theo thời gian. Điều này dẫn đến ma sát giữa các khối đất đá không đủ lớn để có thể giữ chúng, nên khi mở mái quá dốc hay khai thác không đúng quy trình từ trên xuống thì chỉ cần làm mất ổn định ở một điểm (ví dụ: cậy đá, bẩy đá ở chân mái) cũng dẫn đến sụt lở cả mái. Sụt lở đất đá là nguyên nhân của nhiều vụ TNLĐ đặc biệt nghiêm trọng.

Các mối nguy đặc trưng tiếp theo là: nổ mìn do không kiểm soát, ngã từ độ cao và tai nạn do phương tiện gây ra. Nổ mìn do không kiểm soát liên quan đến thợ nổ mìn thường xuyên làm việc với chất nổ, kíp nổ. Ngã từ độ cao liên quan tới những công nhân thường xuyên phải di chuyển hay làm việc ở những nơi có chênh lệch lớn về độ cao (ví dụ như thợ khoan đá, thợ nổ mìn, vận hành tổ hợp nghiền sàng, thợ sửa bảo dưỡng chữa máy/thiết bị). Tai nạn do phương tiện gây ra chủ yếu liên quan đến công nhân vận hành xe tải, máy xúc, máy ủi, máy nâng, máy búa, máy khoan tự hành trong quá trình di chuyển hay làm việc.

Trong quá trình khai thác và chế biến đá, nhiều loại máy/thiết bị được sử dụng như: máy khoan cầm tay, máy khoan tự hành, máy nén khí, máy cắt đá bằng dây kim cương (ở khu vực khai thác); máy kẹp hàm, máy nghiền bi/nghiền côn, sàng rung, băng tải (ở khu vực chế biến đá xây dựng); máy tời, máy cẩu, máy xẻ, máy cắt, máy băm, máy mài, máy đánh bóng, lò quay, (ở khu vực chế biến đá xẻ). Các mối nguy liên quan đến vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa máy/thiết bị bao gồm: va chạm với bộ phận chuyển động, vật thể văng bắn, bị kẹt trong hay giữa các vật thể, điện giật, vật thể rơi do mang vác, nâng nhấc và vận chuyển bằng tay hay bằng máy, nổ khí nén.... Hiện nay, không có số liệu thống kê về TNLĐ do các mối nguy này gây ra trong ngành KT&CBĐ.

Bệnh nghề nghiệp:

Trong số các BNN được bảo hiểm, thì bệnh bụi phổi (bao gồm bệnh bụi phổi silic, bệnh bụi phổi than, bệnh bụi phổi bông) là phổ biến nhất, chiếm 74% số ca mắc bệnh, tiếp theo là bệnh điếc nghề nghiệp chiếm 17%. Ngành KT&CBĐ đóng góp đáng kế vào những con số này.

Các công việc như khoan đá, nổ mìn, bốc xúc/vận chuyển đất đá, nghiền, sàng, xẻ, cắt, bào, mài, băm đá… phát sinh nhiều bụi. Bụi trong KT&CBĐ có hàm lượng Si2O tự do thấp, chỉ khoảng 2,6 -3,7% [3], nhưng rất độc hại và có khả năng dẫn đến  ung thư. Bụi trong KT&CBĐ thường có phân bố dải kích thước hạt rộng, bao gồm cả những hạt bụi nhỏ ≤ 5µm, còn gọi là bụi hô hấp, rất nguy hiểm bởi chúng có thể xâm nhập rất sâu vào phế nang của phổi, đọng lại ở đó và gây bệnh. Bụi có thể gây các bệnh về đường hô hấp, bệnh bụi phổi silic, bệnh ung thư phổi, bệnh lao phổi, rối loạn hệ miễn dịch, bệnh thận mãn tính và một số ảnh hưởng xấu khác. Nồng độ bụi toàn phần tại các cơ sở KT&CBĐ dao động từ 0,7 đến 120,5 mg/m3, giá trị cao nhất vượt TCCP đến 20 lần; còn nồng độ bụi hô hấp từ 0,3 đến 50,9 mg/m3, giá trị cao nhất vượt TCCP 12,6 lần. Phơi nhiễm thường xuyên với bụi silic nồng độ cao, NLĐ có nguy cơ cao mắc các bệnh về đường hô hấp và bệnh bụi phổi silic. Tuy nhiên, hiện nay không có số liệu thống kê về bệnh bụi phổi silic trong ngành KT&CBĐ.

Các công việc như khoan đá, nổ mìn, bốc xúc/vận chuyển đất đá, nghiền, sàng, xẻ, cắt, bào, mài, băm đá… là những nguồn ồn lớn. Tiếng ồn tại các cơ sở KT&CBĐ dao động trong khoảng từ 85 đến 103 dBA. Phơi nhiễm thường xuyên với mức ồn cao như vậy, NLĐ có nguy cơ cao bị suy giảm thính lực và mắc bệnh điếc nghề nghiệp. Trong số 220 công nhân được nghiên cứu tại một cơ sở khai thác và chế biến đá, thì tỷ lệ mắc bệnh điếc nghề nghiệp chung là 17,2%, còn tính riêng đối với công nhân khoan đá là 23,6%, nghiền đá là 14,8% và lái xe tải là 12,7%. Tuy nhiên, hiện nay không có số liệu thống kê chung cho toàn ngành KT&CBĐ.

Công nhân lái máy xúc, máy ủi, máy búa, xe tải, máy nâng, vận hành tổ hợp nghiền sàng chịu tác động của rung toàn thân, trong khi đó, công nhân vận hành máy khoan thuỷ lực cầm tay chịu tác động của rung cục bộ. Gia tốc rung (toàn thân) tại phòng điều khiển của tổ hợp nghiền sàng là 0,15 m/s2, tại vị trí khoan là 0,12 m/s2, tại vị trí đứng phân loại đá trên băng tải là 1,8m/s2 (TCCP là 0,09m/s2). Nguy cơ công nhân mắc bệnh rung nghề nghiệp là khá rõ ràng. Tuy nhiên, hiện nay cũng không có số liệu thống kê về bệnh rung nghề nghiệp cho toàn ngành KT&CBĐ.

Theo thông tư số 07/2016/TT- BLĐTBXH Quy định một số nội dung tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh của Bộ LĐTB&XH, thì ngành KT&CBĐ thuộc nhóm các ngành nghề có nguy cao về TNLĐ, BNN bắt buộc phải thực hiện đánh giá rủi ro. Tuy nhiên, sau hơn 2 năm thông tư có hiệu lực, thì đánh giá rủi ro vẫn chưa được thực hiện ở các cơ sở KT&CBĐ. Đối với hầu hết các CSSX trong nước nói chung và các cơ sở KT&CBĐ nói riêng, thì đánh giá rủi ro là một hoạt động hoàn toàn mới. Để thông tư có thể đi vào thực tế sản xuất, Nhà nước cần phải có bước đi tiếp theo là cung cấp cho các CSSX các tài liệu hướng dẫn thực hiện đánh giá rủi ro cần thiết, phù hợp với từng ngành sản xuất.

Trong những năm vừa qua, Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động đã triển khai một số đề tài nghiên cứu KHCN về lĩnh vực đánh giá rủi ro và quản lý ATVSLĐ theo các mô hình quản lý tiên tiến nhằm đưa ra phương pháp, quy trình đánh giá phù hợp với từng ngành, giúp các CSSX có thể thực hiện được. Đề tài CTTĐ 2018/02/TLĐ “Nghiên cứu đánh giá rủi ro an toàn, vệ sinh lao động và đề xuất áp dụng hệ thống quản lý phù hợp ở các cơ sở khai thác và chế biến đá” là 1 trong số các đề tài nghiên cứu KHCN đi về  lĩnh vực đánh giá rủi ro và quản lý ATVSLĐ được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam giao cho Viện Khoa học ATVSLĐ thực hiện trong 2 năm 2018-2019.

Đề tài đã hoàn thành tất cả các nội dung nghiên cứu, đạt được tất cả các mục tiêu và sản phẩm đề ra theo thuyết minh đề cương nghiên cứu, cụ thể như sau:

(1) Đề tài đã lựa chọn, xây dựng được phương pháp và quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro ATVSLĐ cho các cơ sở KT&CBĐ. Đã áp dụng quy trình được xây dựng để đánh giá rủi ro tại 02 cơ sở KT&CBĐ xẻ ở Thanh Hoá và 01 cơ sở KT&CBĐ xây dựng Ninh Bình.

(2) Đề tài đã đề xuất được hệ thống quản lý ATVSLĐ trong hoạt động KT&CBĐ trên cơ sở tiêu chuẩn OSHAS 18001:2007 và cơ cấu tổ chức bộ máy đặc trưng của các cơ sở KT&CBĐ ở nước ta. Đề tài cũng đã triển khai áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ tại công ty TNHH chế biến đá tự nhiên Nam Thái Sơn đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, hiện nay nhiều cơ sở KT&CBĐ quy mô nhỏ, rất thiếu nhân lực, thì việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn OSHAS 18001:2007 là rất khó khăn.

(3) Kết quả nghiên cứu chính của đề tài bao gồm quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro và hệ thống quản lý ATVSLĐ có thể áp dụng được trong các cơ sở KT&CBĐ hoặc các cơ sở khai thác khoáng sản lộ thiên khác với một số điều chỉnh chi tiết phù hợp.

Tài liệu tham khảo:

Nguyễn Thắng Lợi và CS (2018), Nghiên cứu đánh giá rủi ro an toàn, vệ sinh lao động và đề xuất áp dụng hệ thống quản lý phù hợp ở các cơ sở khai thác và chế biện đá, Báo cáo tổng kết đề tài CTTĐ-2018/02/TLĐ, Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động.

(Nguồn tin: Vnniosh.vn)