Phòng ngừa viêm gan virut B nghề nghiệp trong nhân viên y tế

05/08/2016
Viêm gan virus là một bệnh nhiễm trùng do virus xâm nhập vào gan và có thể gây ra bệnh viêm gan cấp tính và mạn tính. Viêm gan virus (VGVR) có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp. Khoảng 17,6% nhân viên y tế có thể bị nhiễm virus gây ra bệnh viêm gan B.

Viêm gan virus  là một bệnh nhiễm trùng do virus xâm nhập vào gan và có thể gây ra bệnh viêm gan cấp tính và mạn tính. Virus được lây truyền thông qua việc tiếp xúc với máu hoặc chất dịch của cơ thể người bị bệnh và không qua tiếp xúc thông thường. Bệnh gây nguy cơ tử vong cao do xơ gan và ung thư gan.

 

Viêm gan virus (VGVR)  có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp. Đó là công nhận của Liên Bộ Y tế, Lao động – Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về căn bệnh này vì tỷ lệ mang kháng thể HBsAg nói chung của nhân viên y tế cao hơn gấp 3-5 lần so với người dân bình thường. Khoảng 17,6% nhân viên y tế có thể bị nhiễm virus gây ra bệnh viêm gan B. Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong tổng số 35 triệu nhân viên y tế trên thế giới, mỗi năm, 2 triệu người tiếp xúc qua da với bệnh truyền nhiễm. Trong đó, khoảng 40% bị phơi nhiễm viêm gan B, 40% phơi nhiễm viêm gan C, 2,5% phơi nhiễm HIV do tổn thương vì kim đâm

Nhóm có nguy cơ cao bao gồm: Những người thường xuyên có tiếp xúc với máu, dịch của bệnh nhân (Nhân viên phòng xét nghiệm, y tá, điều dường thường xuyên thực hiện các kỹ thuật tiêm/truyền dịch/máu cho bệnh nhân, nhân viên khoa nha, ngoại khoa, sản khoa…), những người thường xuyên trực tiếp khám, điều trị, điều dưỡng, phục vụ bệnh nhân viêm gan (nhân viên khoa truyền nhiễm có khám và điều trị bệnh nhân viêm gan, khám khám chuyên khoa gan mật…) nhân viên xử lý rác thải, nhân viên ướp xác…

Đường truyền bệnh 

Nhân viên y tế có thể có nguy cơ bị nhiễm nhiều loại virus viêm gan khác nhau (A, B, C, D, E, G). Trong đó, viêm gan A và E là chỉ lây truyền qua đường tiêu hóa còn các bệnh viêm gan B, C, D, G lây truyền qua 3 đường : đường máu (qua vết thương, tổn thương da có tiếp xúc với máu), đường tình dục (tinh dịch và dịch tiết âm đạo) và đường truyền từ mẹ sang con., Riêng với viêm gan nghề nghiệp chỉ được công nhân là lây tuyền qua đường máu. Tuy vậy, hiện nay chỉ có viêm gan B,C là bệnh nằm trong danh mục 30 BNN được bảo hiểm ở Việt Nam.


Phương thức lây truyền đối với virus viêm gan giống với bệnh suy giảm miễm dịch ở người (HIV) nhưng HBV có khả năng lây nhiễm cao hơn từ 50 đến 100 lần. Không giống như HIV, HBV có thể tồn tại bên ngoài cơ thể ít nhất tới 7 ngày. Trong thời gian đó, virus vẫn có thể gây nhiễm trùng nếu nó xâm nhập vào cơ thể của một người chưa mắc bệnh.
HBV không lây truyền qua thực phẩm hoặc nước bị ô nhiễm. Thời kỳ ủ bệnh của virus trung bình là 90 ngày nhưng có thể thay đổi trong khoảng 30 đến 180 ngày. HBV có thể được xác định từ 30 đến 60 ngày sau khi nhiễm và có thể với thời kỳ lâu hơn.

Biểu hiện

Virus viêm gan B có thể gây ra bệnh cấp tính với các hội chứng kéo dài khoảng vài tuần bao gồm vàng da và mắt (bệnh vàng da), nước tiểu đậm màu, suy kiệt, buồn nôn, nôn mửa và đau bụng. Mọi người có thể phải mất vài tháng đến một năm mới khỏi các hội chứng này. HBV cũng có thể gây một nhiễm trùng gan mạn tính và sau này có thể phát triển thành xơ gan hoặc ung thư gan. Khoảng 90% người lớn khỏe mạnh bị nhiễm HBV sẽ hồi phục và hoàn toàn loại bỏ virus trong vòng sáu tháng. HBV là một nguy hại nghề nghiệp nhiễm trùng chính đối với nhân viên y tế.

Điều trị và phòng bệnh

Đối với cán bộ y tế, để phòng bệnh VGB cần rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với người bệnh. Mang găng tay mỗi khi tiếp xúc với máu và dịch sinh học, niêm mạc, da bị tổn thương của người bệnh và các chất thải của cơ thể. Sử dụng các phương tiện che chắn cá nhân (áo mổ, ủng không thấm nước, khẩu trang, kính mắt bảo vệ). Thực hiện khử khuẩn sơ bộ dụng cụ trước khi xử lý. Hạn chế tiếp xúc với đồ vải bẩn.,không để các vật sắc nhọn lẫn vào đồ vải, đồ vải bẩn đuợc thu gom và vận chuyển trong bao túi riêng. Với các vật sắc nhọn như kim tiêm sau khi sử dụng được bỏ ngay vào thùng đựng chất thải dành riêng cho vật sắc nhọn, không để các vật sắc nhọn đã sử dụng lẫn vào các chất thải y tế khác. Không đậy nắp kim tiêm, cắt kim, bẻ gãy hoặc rút kim ra khỏi bơm tiêm trước khi loại bỏ kèm theo bơm tiêm vào thùng thu gom vật sắc nhọn. Khi sử dụng vật sắc nhọn (kim tiêm, dao mổ...) trong các thủ thuật, phẫu thuật chú ý không để xảy ra các tổn thương cho người khác.

Tiêm phòng VGB là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa  cho nhân viên y tế. Tất cả nhân viên y tế có nguy cơ cao bị phơi nhiễm với máu hoặc dịch tiết cần phải được tiêm phòng.  Trường hợp chưa tiêm phòng, nên tiêm phòng sau phơi nhiễm, bất kể tình trạng nhiễm VG B của người bệnh nguồn. Globulin miễn dịch VG B (HBIG) có hiệu quả ngăn ngừa nhiễm VG B sau khi bị phơi nhiễm. Trị liệu sau phơi nhiễm nên bắt đầu càng sớm càng tốt sau khi bị phơi nhiễm, tốt nhất là trong vòng 24 giờ, và không trể hơn 7 ngày

Khi phát hiện bản thân mắc VGB cần kịp thời đi khám, chẩn đoán bệnh để được điều trị sớm, đúng cách, triệt để. Điều trị VGB bằng Đông y hoặc Tây y (bằng thuốc uống, thuốc tiêm, liệu pháp truyền ngược tự thân...).

(Nguồn tin: http://nioeh.org.vn/)