Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ không khí trong môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

03/10/2016
Việc thực hiện pháp luật về bảo vệ không khí trong môi trường làng nghề bên cạnh một số kết quả đạt được vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Do đó, bài báo này sẽ tập trung đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về bảo vệ không khí trong môi trường làng nghề ở các tỉnh ĐBSH, phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp để cải thiện tình hình.

1. MỞ ĐẦU

Cùng với sự ra đời các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng rất đáng lo ngại. Tình trạng ô nhiễm không khí (ONKK) tại các làng nghề vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) không những không giảm, mà còn có xu hướng gia tăng theo thời gian, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than (phổ biến là than chất lượng thấp), sử dụng nguyên vật liệu và hóa chất trong dây chuyền công nghệ sản xuất, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất khá cao. Nồng độ bụi ở khu vực sản xuất vật liệu xây dựng tại một số địa phương vượt QCVN 05:2013 là 3 - 8 lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt 6,5 lần. Một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ còn phát sinh ô nhiễm mùi do quá trình phân huỷ các chất hữu cơ trong nước thải và các chất hữu cơ trong chế phẩm thừa thải ra tạo nên các khí như CH4, H2S, NH3,...các khí gây mùi hôi tanh rất khó chịu [1]. Nguyên nhân là việc thực hiện pháp luật (THPL) về bảo vệ không khí trong môi trường làng nghề bên cạnh một số kết quả đạt được vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế. Do đó, bài báo này sẽ tập trung đánh giá tình hình THPL về bảo vệ không khí trong môi trường làng nghề ở các tỉnh ĐBSH, phân tích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp để cải thiện tình hình.

2. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ KHÔNG KHÍ TRONG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

* Trên phương diện thi hành pháp luật:

Thứ nhất là, từng bước khắc phụ ô nhiễm không khí từ các hoạt động sản xuất làng nghề: với vai trò là cơ quan đầu mối triển khai đề án, năm 2013 Bộ TNMT đã triển khai một số hoạt động gồm: công bố danh mục 47 làng nghề ô nhiễm môi trường (ONMT) nghiêm trọng (trong đó có 34/47 làng nghề gây ô nhiễm trực tiếp tới môi trường không khí) cần xử lý; chuẩn bị xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường làng nghề; tổ chức thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất tại các làng nghề tái chế, giết mổ gia súc và làng nghề gây ONMT nghiêm trọng; xây dựng các Hướng dẫn kỹ thuật về xử lý khí thải cho các cơ sở thuộc một số loại hình làng nghề.

Thứ hai là, triển khai các giải pháp xanh nhằm giảm thiểu khí thải hiệu ứng nhà kính, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu: Tháng 9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh (Quyết định số 1393/QĐ-TTg) trong đó đã đề ra 3 nhiệm vụ quan trọng là: giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; xanh hóa sản xuất; xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững. Trên cơ sở mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm của Chiến lược, các chương trình, dự án ưu tiên về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2015 (ban hành kèm theo Quyết định phê duyệt Chiến lược) đã và đang được triển khai ở các làng nghề theo đúng lộ trình đặt ra như: tuyên truyền, nâng cao nhận thức, khuyến khích hỗ trợ thực hiện; nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm mức tiêu hao năng lượng trong các hoạt động sản xuất thông qua đổi mới công nghệ, áp dụng quy trình quản lý, vận hành tiên tiến; thay đổi cơ cấu nhiên liệu trong sản xuất theo hướng giảm năng lượng từ nguồn nhiên liệu hóa thạch, khuyến khích sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; rà soát, điều chỉnh quy hoạch các ngành nghề sản xuất, đặc biệt là những ngành nghề tác động nhiều tới tài nguyên, môi trường;…

Cùng với tăng trưởng xanh, phát triển phát thải cacbon thấp là vấn đề căn bản và cốt lõi của phát triển phát thải thấp. Năm 2012, Việt Nam cũng là một trong 4 quốc gia được chọn tham gia dự án thúc đẩy Chiến lược phát triển Cacbon thấp. Theo Chiến lược, mục tiêu giai đoạn 2011-2020, Việt Nam sẽ giảm cường độ phát thải khí thải nhà kính từ 8 đến 10% so với năm 2010, giảm lượng phát thải khí thải nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10 đến 20%, tiến tới xây dựng một nền kinh tế cacbon thấp, phát triển kinh tế bền vững đi đôi với tăng trưởng xanh.

Thứ ba là, tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hoạt động quan trắc môi trường không khí: Giai đoạn 2007-2012, các chương trình quan trắc, giám sát chất lượng môi trường không khí ở các tỉnh ĐBSH, trong đó có khu vực các làng nghề, vẫn tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh, cung cấp số liệu kịp thời, phục vụ các nhà quản lý, hoạch định chính sách ở Trung ương cũng như các tỉnh ĐBSH trong việc ban hành các quyết định, chính sách, chiến lược,…

11/11 tỉnh thành phố vùng ĐBSH đã thành lập trung tâm Quan trắc môi trường (trực thuộc sở TNMT hoặc Chi cục BVMT) với chức năng đầu mối liên khai các chương trình quan trắc của địa phương, trong đó có chương trình quan trắc môi trường không khí với tần suất 3-12 đợt/năm tùy theo kế hoạch và kinh phí của từng địa phương. Các chương trình này bước đầu cũng cho thấy những kết quả tích cực trong công tác giám sát chất lượng môi trường không khí ở các làng nghề, phục vụ công tác quản lý môi trường làng nghề của địa phương. Ngoài ra, các chương trình quan trắc phát thải khí cũng đã và đang được duy trì tại một số cơ sở sản xuất, làng nghề phục vụ công tác báo cáo định kỳ của cơ sở sản xuất đối với các cơ quan quản lý môi trường (sử dụng để tính toán chỉ số chất lượng không khí, phục vụ xây dựng các báo cáo đánh giá chất lượng môi trường phục vụ các đề tài nghiên cứu khoa học, sử dụng để công bố thường xuyên và rộng rãi cho cộng đồng trên các trang thông tin điện tử.

* Trên phương diện sử dụng pháp luật :

Trong thời gian qua, sự tham gia của cộng đồng trong quá trình ĐTM của các dự án, nhà máy, cơ sở sản xuất làng nghề, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quản lý môi trường,... đã góp phần đáng kể trong việc củng cố ý thức của các cơ sở sản xuất trong hoạt động BVMT ở các tỉnh ĐBSH. Ở khu vực nông thôn, Chương trình BVMT trong xây dựng nông thôn mới đã được triển khai ở nhiều địa phương ĐBSH và thu hút được nhiều kết quả tích cực. Người dân tại các khu vực nông thôn khi được huy động đều tham gia nhiệt tình đối với các phong trào, tham gia xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy ước về BVMT. Các cấp Hội Nông dân tổ chức thường xuyên các cuộc thi, chương trình giao lưu, tìm hiểu, trao đổi kiến thức, kinh nghiệm về: nguyên nhân và tác hại của ONMT không khí, biến đổi khí hậu, sự suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái rừng; những lợi ích mang lại từ hệ sinh thái rừng. Qua đó, hướng dẫn mọi người tự giác hạn chế sử dụng tài nguyên không tái tạo; tự giác tham gia các hoạt động phong trào BVMT trong đó có BVMT không khí...

* Trên phương diện áp dụng pháp luật :

Thứ nhất là, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về BVMT không khí: Trong hệ thống văn bản QPPL hiện hành, từ Luật cho đến các văn bản dưới Luật đều có những nội dung quy định về bảo vệ và kiểm soát ONMT không khí. Luật BVMT 2014 và các văn bản dưới Luật đều yêu cầu các dự án phải thực hiện ĐTM, báo cáo giám sát môi trường không khí. Đối với ĐTM, đã có những hướng dẫn kỹ thuật, chi tiết đối với công tác ĐTM của một số ngành cụ thể như vật liệu xây dựng xi măng, thép,... là những ngành có lượng khí, bụi thải phát tán vào môi trường lớn. Qua đó, góp phần tăng cường kiểm soát ONMT không khí. Các văn bản dưới Luật quy định về BVMT cũng đã đề cập đến kiểm soát và bảo vệ không khí của các khu kinh tế, khu công nghệ cao, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề, trong đó, có quy định đối với hoạt động quan trắc, giám sát khí thải. Tại địa phương các tỉnh ĐBSH, ngày 23/1/2014 UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ra quyết định số 04/2014/QĐ-UBND ban hành Quy định về BVMT nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc [2] trong đó có quy định rất rõ trách nhiệm của các hộ gia đình, cá nhân tham gia kinh doanh, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, sản xuất nhỏ (mộc, rèn, sản xuất đồ gốm,...) phải có trách nhiệm “Áp dụng các biện pháp kiểm soát hoặc thu gom, xử lý khí thải độc hại, bụi, tiến ồn đảm bảo theo quy định”.

Thứ hai là, hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về BVMT không khí đã đi vào hoạt động ổn định và không ngừng được nâng cao năng lực: Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước đã được hình thành và đi vào hoạt động ổn định nhiều năm nay từ cấp Trung ương đến các tỉnh ĐBSH, trong đó bao gồm cả tổ chức quản lý môi trường không khí. Cơ cấu tổ chức quản lý đã có sự phân công trách nhiệm giữa các Bộ, ngành và địa phương. Theo đó, Bộ TNMT đã phát huy vai trò là cơ quan đầu mối quản lý các vấn đề liên quan đến BVMT không khí; xây dựng và trình Chính phủ ban hành các Chiến lược, văn bản quy phạm pháp luật về BVMT, trong đó có BVMT không khí. Bộ cũng đã thực hiện vai trò đầu mối, phối hợp với các Bộ, ngành khác xây dựng và triển khai các đề án, chương trình khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường, chương trình kinh tế xanh, sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu thụ bền vững; Kế hoạch hành động quốc gia về kiểm soát ONKK; phối hợp với một số ngành ban hành các tiêu chuẩn thải; tổ chức các chương trình thanh tra, kiểm tra công tác BVMT của các chủ nguồn thải...

Thứ ba là, rà soát và ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường không khí: Theo quy định của Luật BVMT, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, từ năm 2008, Bộ TNMT cùng với các Bộ ngành có liên quan đã tiến hành rà soát, chuyển đổi hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về môi trường, trong đó bao gồm các quy chuẩn liên quan đến chất lượng không khí. Có thể đánh giá, đây là một trong số những giải pháp đề xuất đã được triển khai thực hiện và mang lại kết quả khá tốt. Năm 2011, Bộ TNMT đã ban hành quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường không khí xung quanh nhằm thống nhất việc xây dựng và thực hiện các chương trình quan trắc môi trường không khí cấp quốc gia và địa phương. Cùng với đó, các QCKT quốc gia đã được xây dựng và ban hành, đặc biệt là quy chuẩn cho một số ngành đặc thù; các ngưỡng của quy chuẩn đã được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế và tương đồng với các tiêu chuẩn, quy chuẩn của quốc tế. Điển hình là Hà Nội, nhằm thắt chặt việc kiểm soát ONMT không khí, Luật Thủ đô (điều 14, khoản 3) cũng đã có quy định: Bộ TNMT có trách nhiệm ban hành quy chuẩn môi trường đối với nước thải, khí thải và tiếng ồn trên địa bàn Thủ đô nghiêm ngặt hơn so với QCKT môi trường quốc gia. Hiện nay, 05 bộ QCKT về môi trường áp dụng trên địa bàn Thủ đô Hà Nội (trong đó có 02 quy chuẩn về khí thải đối với bụi và chất vô cơ; khí thải công nghiệp sản xuất xi măng) đã hoàn thiện và ban hành ngày 5/9/2014 (Thông tư số 51/2014/TT-BTNMT). Theo đó, các quy chuẩn này đều thắt chặt hơn so với QCKT quốc gia về ngưỡng giới hạn cho phép đối với các thông số.

Thứ tư là, trong công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực bảo vệ môi trường không khí: Hàng năm, từ cấp Trung ương đến các tỉnh ĐBSH đều xây dựng kế hoạch và tiến hành kiểm tra định kỳ tình hình triển khai, thi hành pháp luật về BVMT không khí, việc chấp hành các quy định của pháp luật về BVMT không khí tại một số cơ sở sản xuất trên địa bàn các tỉnh ĐBSH.

3. NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO VỆ KHÔNG KHÍ TRONG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

* Trên phương diện tuân thủ pháp luật

Tại các làng nghề vùng ĐBSH, vẫn còn tồn tại những ngành sản xuất gây ONKK nặng (như tái chế nhựa, kim loại, chăn nuôi gia súc, sản xuất giấy...) không tuân thủ các quy định BVMT về xử lý khí thải, không thực hiện ĐTM, chưa có giải pháp xử lý ô nhiễm triệt để, mặc dù đã có những quy định về di dời và xử lý ô nhiễm đối với các loại hình làng nghề này. Các cơ sở sản xuất này mới chỉ quan tâm đến lợi nhuận kinh tế mà chưa quan tâm đầu tư cho công tác BVMT, không đầu tư, lắp đặt hệ thống xử lý khí thải, hoặc có đầu tư lắp đặt nhưng không hoạt động thường xuyên, hoặc chỉ hoạt động khi có các đoàn thanh tra, kiểm tra đến cơ sở. Chính sự thiếu ý thức của các chủ nguồn thải, cùng với lực lượng thanh tra, kiểm tra về môi trường còn thiếu và yếu dẫn tới việc kiểm soát ONMT nói chung, môi trường không khí nói riêng chưa hiệu quả, vẫn còn nhiều điểm nóng về ONMT do hoạt động xả thải không tuân thủ các quy định về BVMT.

* Trên phương diện thi hành pháp luật:

Thứ nhất là, tính hiệu quả, hiệu lực thực thi các chính sách, văn bản QPPL về không khí chưa cao: Trong những năm qua, có thể thấy rằng, các chính sách, văn bản QPPL trong lĩnh vực BVMT đã được ban hành khá nhiều, tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các quy định là chưa đầy đủ và nghiêm túc. Ở các tỉnh ĐBSH, trách nhiệm của các đơn vị quản lý và thực thi cũng chưa cao, vẫn đặt lợi ích và phát triển kinh tế lên trên vấn đề BVMT, vì vậy, việc triển khai và thực thi các chính sách, văn bản về BVMT nói chung, BVMT không khí nói riêng ở các làng nghề chưa thực sự phát huy hiệu quả. Đối với hoạt động sản xuất làng nghề, hầu như chưa chú ý tới phát triển xanh. Các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, rèn, đúc, tái chế kim loại vẫn tiếp tục đầu tư sử dụng các công nghệ lạc hậu, chưa có sự đầu tư thích đáng đối với công nghệ xử lý chất thải nên đây vẫn là những ngành vừa sử dụng năng lượng không hiệu quả và là nguồn gây ONMT không khí.

Thứ hai là, thiếu kế hoạch quản lý chất lượng không khí: Một trong những nội dung quan trọng trong quản lý môi trường không khí là xây dựng và thực thi kế hoạch quản lý chất lượng không khí. Vấn đề này đã được đề xuất trong Báo cáo môi trường quốc gia 2007, tuy nhiên, cho đến nay, nước ta vẫn chưa có kế hoạch quản lý chất lượng không khí ở cấp Quốc gia cũng như ở các tỉnh ĐBSH. Hiện nay, Bộ TNMT đang triển khai xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về kiểm soát ONMT không khí. Tuy nhiên, xét trên khía cạnh quản lý chất lượng không khí nói chung, Kế hoạch hành động về kiểm soát ONMT không khí mới chỉ là một nội dung nằm trong kế hoạch quản lý chất lượng không khí. Ở các tỉnh ĐBSH, từ những năm 2007 - 2008, Chương trình không khí sạch Việt Nam - Thụy Sỹ đã hỗ trợ cho Hà Nội xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng không khí. Tuy nhiên, khi dự án này kết thúc năm 2009, cùng với việc mở rộng Hà Nội thì kế hoạch này không được tiếp tục nâng cấp và trình ban hành.

Thứ ba là, hoạt động quan trắc môi trường không khí ở các làng nghề vùng ĐBSH còn nhiều hạn chế: Hiện nay, các chương trình quan trắc môi trường nói chung, môi trường không khí nói riêng ở các tỉnh ĐBSH mới chỉ chủ yếu tập trung tại các khu vực đô thị, các khu vực gần khu công nghiệp... thiếu các chương trình quan trắc tổng thể và định kỳ cho các khu vực làng nghề. Hoạt động quan trắc chưa theo một quy trình thống nhất, rất nhiều đơn vị tham gia quan trắc hiện trường với các phương pháp lấy mẫu và phân tích khác nhau gây khó khăn cho công tác đánh giá chất lượng số liệu. Hiện nhiều đơn vị chưa có đủ năng lực thực hiện quan trắc không khí nhưng vẫn đảm nhận hoạt động này. Các thiết bị quan trắc không khí nhiều nơi yếu kém và lạc hậu, chưa tự động hoá các khâu lưu trữ, xử lý và trao đổi số liệu. Vấn đề quan trắc khí thải ống khói và quan trắc chuyên sâu về không khí còn kém, số đơn vị có thể thực hiện hoạt động này rất ít, mới chỉ có Hà Nội và Hải Dương là có đầu tư thiết bị quan trắc khí thải ống khói. Theo quy định tại quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM, các cơ sở sản xuất đều phải thực hiện quan trắc môi trường định kỳ, nhưng hầu hết các cơ sở sản xuất làng nghề đều chưa thực hiện giám sát khí thải tại các ống khói. Hệ thống quan trắc nói trên cũng chưa kết nối được với hệ thống dữ liệu của cơ quan quản lý môi trường nên việc giám sát, kiểm soát nguồn thải còn gặp nhiều hạn chế. Trong những năm gần đây, mặc dù đã được tăng cường nhưng hệ thống trạm quan trắc không khí tự động liên tục còn rất thưa, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Tại nhiều địa phương, mặc dù những năm đầu triển khai lắp đặt và vận hành các trạm tương đối hiệu quả nhưng sau đó, do thiếu kinh phí duy trì, bảo dưỡng và hiệu chuẩn, rất nhiều trạm quan trắc không khí tự động đã phải dừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng, không đủ chuỗi số liệu để đánh giá, số liệu không đảm bảo độ tin cậy. Việc đầu tư xây dựng và vận hành các trạm quan trắc không khí tự động tại nhiều địa phương chưa theo quy hoạch, chưa tính đến hiệu quả sử dụng và duy trì vận hành lâu dài nên sau khi lắp đặt, một số không được vận hành hoặc chỉ vận hành khi có yêu cầu [3].

Thứ tư là, kiểm soát nguồn thải chưa hiệu quả: Hiện nay, có khá nhiều Chương trình, Đề án về kiểm soát ONKK đã được phê duyệt, nhưng phần lớn đều chưa được triển khai ở các tỉnh ĐBSH hoặc triển khai không hiệu quả. Tỷ lệ các cơ sở sản xuất nghề ở vùng ĐBSH có áp dụng công nghệ xử lý khí thải còn rất thấp, hầu hết chưa có các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm do khí thải. Rất nhiều địa phương gặp phải vấn đề mùi từ khí thải của cơ sở sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm, giết mổ gia súc,.. nhưng cũng chưa có những biện pháp khắc phục, giải quyết triệt để.

* Trên phương diện sử dụng pháp luật :

Mặc dù trong hầu hết các chính sách, chiến lược, văn bản QPPL về BVMT của nước ta đều nhấn mạnh về trách nhiệm của toàn xã hội, các cấp các ngành, các tổ chức, cộng đồng và mọi người dân đều có trách nhiệm BVMT, tuy nhiên vấn đề huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc BVMT không khí ở các làng nghề vùng ĐBSH còn nhiều hạn chế. Công tác tuyên truyền đã được đẩy mạnh với nhiều hình thức mới (bảng thông tin điện tử tại các tuyến giao thông, các trang thông tin điện tử...) nhưng vẫn chưa thực sự đi vào cộng đồng. Tiềm năng của cộng đồng trong BVMT không khí ở các làng nghề vùng ĐBSH chưa được phát huy đầy đủ, sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình đóng góp ý kiến ra quyết định, hoạch định chính sách và các hoạt động quản lý môi trường còn mang nhiều tính hình thức.

* Trên phương diện áp dụng pháp luật :

Thứ nhất là, thiếu các quy định pháp luật đặc thù cho môi trường không khí: Việc xác định mức độ ô nhiễm, kiểm soát nguồn phát thải khí hoàn toàn khác biệt, phức tạp hơn so với kiểm soát ô nhiễm do nước thải hay chất thải rắn và Việt Nam vẫn chưa có các văn bản quy phạm pháp luật đặc thù, chuyên biệt cho vấn đề quản lý và kiểm soát ONMT không khí. Cụ thể, Luật BVMT 2014 mới chỉ đề cập rất ít đến kiểm soát ONKK (Điều 62, 63 và 64 về kiểm soát bụi, khí thải, hạn chế tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ). Mặc dù Luật có quy định về kiểm soát ONKK nhưng thiếu các quy định cụ thể trong các văn bản quy định dưới Luật nên việc triển khai thực hiện gặp rất nhiều khó khăn. Vấn đề BVMT không khí và xử phạt những hành vi gây ra ONMT không khí nghiêm trọng còn chưa được đề cập chi tiết và cụ thể. Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng có điều khoản quy định việc xử lý các hành vi phạm tội trong lĩnh vực kiểm soát ONKK (Điều 182). Tuy nhiên, chưa có các tiêu chí, quy định để xác định thế nào là mức độ nghiêm trọng, gây hậu quả nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng nên rất khó để áp dụng mức phạt phù hợp. Đối với văn bản dưới Luật, hiện chưa có một văn bản quy phạm pháp luật đặc thù nào cho môi trường không khí... Thiếu nhiều văn bản pháp luật gắn BVMT không khí với chính sách sử dụng tiết kiệm và hợp lý tài nguyên thiên nhiên, thúc đẩy xã hội hoá hoạt động BVMT. Năm 2013, Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT đã được sửa đổi (Nghị định số 179/2013/NĐ-CP thay thế cho Nghị định số 117/2009/NĐ-CP) với các mức phạt được quy định chi tiết hơn và tăng nặng hơn, tuy nhiên, việc xác định mức độ vi phạm còn gặp nhiều khó khăn do việc kiểm tra, giám sát phát thải chưa đáp ứng thực tế cả về nhân lực và thiết bị kiểm tra. Đến nay, chưa có kết quả thống kê về tình hình xử phạt vi phạm trong lĩnh vực BVMT không khí.

Thứ hai là, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường không khí chưa đáp ứng yêu cầu thực tế: Mặc dù, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường không khí đã và đang tiếp tục được rà soát, sửa đổi, tuy nhiên, đến nay vẫn chưa đồng bộ, còn thiếu những quy chuẩn đặc thù cho một số ngành và tồn tại một số vấn đề chưa phù hợp với tình hình thực tế. Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn của nước ta hiện nay hầu hết được xây dựng trên cơ sở kế thừa hoặc Việt Nam hóa các tiêu chuẩn, quy chuẩn của quốc tế, khu vực (tiêu chuẩn của WHO, EU, ISO...). Một số tiêu chuẩn, quy chuẩn được xây dựng và đề xuất theo kinh nghiệm chuyên gia. Chính vì vậy, tính phù hợp và tính khả thi của một số tiêu chuẩn, quy chuẩn với điều kiện thực tế của Việt Nam cũng đang là vấn đề cần được xem xét thích đáng. Thêm vào đó, việc bắt buộc áp dụng các phương pháp không phù hợp với điều kiện trang thiết bị thực tế tại các trạm quan trắc cũng gây nhiều khó khăn cho các đơn vị thực hiện.

Thứ ba là, chồng chéo về chức năng nhiệm vụ về quản lý môi trường không khí: Đây là vấn đề tồn tại từ nhều năm trước nhưng đến nay vẫn chưa có những cải thiện hợp lý về mặt tổ chức. Giữa Bộ TN&MT và các Bộ, ngành khác vẫn tồn tại sự chồng chéo về chức năng nhiệm vụ quản lý môi trường không khí. Thêm vào đó, quan hệ giữa Bộ TN&MT và các Bộ, ngành khác là quan hệ ngang cấp nên Bộ TN&MT khó phát huy được vai trò đầu mối. Ở các Bộ, ngành, việc đảm bảo thực hiện song song nhiệm vụ phát triển và BVMT của ngành, lĩnh vực cũng khiến cho công tác quản lý gặp nhiều khó khăn. Ở các tỉnh ĐBSH, vấn đề quản lý môi trường nói chung, môi trường không khí nói riêng cũng tồn tại những vấn đề tương tự như ở cấp Trung ương. Năng lực của cơ quan quản lý môi trường ở nhiều tỉnh ĐBSH cũng chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt tại các Sở ban ngành khiến cho việc quản lý và kiểm soát ONKK chưa phát huy hiệu quả. Công tác điều phối giữa các Bộ, ngành, địa phương trong giải quyết các vấn đề ONKK cũng chưa tốt.

4. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP

4.1. Nguyên nhân khách quan

Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước làm gia tăng nguy cơ tác động xấu đến môi trường không khí trên diện rộng. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước bị chững lại trong giai đoạn 2011 đến nay dẫn đến đầu tư từ doanh nghiệp và xã hội cho công tác bảo vệ môi trường không khí ở các làng nghề bị giảm sút.

4.2. Nguyên nhân chủ quan

Một là, Một số cấp ủy, chính quyền vùng ĐBSH chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường không khí ở các làng nghề và phát triển bền vững trong chỉ đạo, điều hành. Tư tưởng “ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ yêu cầu bảo vệ môi trường” còn phổ biến ở nhiều cấp ủy đảng và chính quyền.

Hai là, Ý thức về BVMT nói chung, bảo vệ môi trường không khí nói riêng vẫn chưa trở thành thói quen, nếp sống của một bộ phận dân cư ở các làng vùng ĐBSH. Ý thức chấp hành Luật BVMT nói chung, bảo vệ môi trường không khí nói riêng của các hộ sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn thấp.

Ba là, Công tác xã hội hóa hoạt động môi trường không khí chưa thực sự hiệu quả; chưa huy động của sức mạnh toàn dân. Chưa có sự phân công cụ thể và đầu tư nguồn lực cho một tổ chức có chức năng quản lý nhà nước theo dõi toàn diện về xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường không khí.

Bốn là, Ý thức thực thi trách nhiệm công vụ về bảo vệ tài nguyên nước của nhiều cán bộ các cấp ở Trung ương cũng như các tỉnh ĐBSH trong điều hành, chỉ đạo và thực hiện công việc còn chưa tốt; dẫn tới tình trạng bỏ qua hoặc không tuân thủ đầy đủ các qui định pháp luật về bảo vệ môi trường không khí.

Năm là, Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường không khí tới cộng đồng dân cư còn hạn chế; việc thực thi chính sách, pháp luật vệ môi trường không khí còn chưa nghiêm, hiệu lực, hiệu quả chưa cao.

5. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THPL VỀ BẢO VỆ KHÔNG KHÍ TRONG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ VÙNG ĐBSH

Một là, Hoàn thiện các thể chế về bảo vệ môi trường không khí:Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật; sớm xây dựng và triển khai Kế hoạch quản lý chất lượng không khí; Tiếp tục kiện toàn tổ chức quản lý nhà nước về môi trường không khí, tăng cường vai trò của đơn vị đầu mối quản lý về môi trường không khí, trách nhiệm của các đơn vị tham gia quản lý cả ở cấp Trung ương và địa phương.

Hai là, Đẩy mạnh hoạt động quan trắc và kiểm kê nguồn thải: Tập trung xây dựng mạng lưới quan trắc chất lượng không khí tại các làng nghề để giám sát, phát hiện các vấn đề ONKK, hoặc các nguồn khí thải gây ONMT không khí. Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, máy móc, thiết bị và công nghệ hiện đại cho trạm quan trắc không khí, đặc biệt là quan trắc bụi và bụi mịn (tập trung cho hệ thống trạm quan trắc không khí tự động, cố định và di động). Tăng cường công tác kiểm kê nguồn phát thải, cung cấp các số liệu rất quan trọng cho việc xây dựng các chính sách về môi trường và phát triển bền vững.

Ba là, Tăng cường kiểm soát và giảm phát thải: Kiểm soát, hạn chế các nguồn gây ô nhiễm bụi tại làng nghề; Tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra hoạt động bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất làng nghề; các biện pháp cưỡng chế, xử lý ô nhiễm triệt để. Đối với những làng nghề có phát sinh khí thải độc hại cần đầu tư thay đổi công nghệ hoặc thậm chí chuyển đổi loại hình sản xuất.

Bốn là, Đẩy mạnh nhóm giải pháp xanh: tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường không khí, thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ trong Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh và phát thải cacbon thấp.

Năm là, Xây dựng các cụm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp làng nghề ở ngoài khu dân cư; kiểm soát và quản lý việc hình thành các làng nghề tự phát.

Sáu là, Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục ý thức BVMT không khí cho các hộ sản xuất làng nghề trước, trong và sau khi sản xuất; vận động, khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với các hộ sản xuất, doanh nghiệp ở các làng nghề đầu tư công nghệ, thiết bị mới không phát thải khí độc hại, khí nhà kính.

 Bảy là, Đẩy mạnh việc xây dựng Hương ước ở các làng nghề, trong đó vấn đề bảo vệ môi trường không khí phải là một trong những nội dung quan trọng của Hương ước.

6. KẾT LUẬN

Ô nhiễm không khí ở các làng nghề vùng ĐBSH hiện đang ở mức độ nghiêm trọng và chưa có dấu hiệu được cải thiện. Nguyên nhân là do việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường không khí trong các làng nghề bên cạnh những kết quả tích cực vẫn còn rất nhiều những hạn chế, bất cập trên cả bốn phương diện: tuân thủ pháp luật, thực hiện pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Trên cơ sở phân tích những nguyên nhân khách quan và chủ quan, các nhóm giải pháp được đề xuất để cải thiện tình hình THPL về bảo vệ không khí trong môi trường làng nghề vùng ĐBSH là: hoàn thiện các thể chế về BVMT không khí, đẩy mạnh hoạt động quan trắc và kiểm kê nguồn thải, tăng cường kiểm soát và giảm phát thải, đẩy mạnh nhóm giải pháp xanh, xây dựng các cụm công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp làng nghề ở ngoài khu dân cư, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục ý thức BVMT không khí ở các làng nghề và đưa nội dung BVMT không khí vào trong Hương ước./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo Quốc gia  môi trường không khí 2013 - Môi trường không khí, 2013.
  2. Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (2014), Quyết định số 04/2014/QĐ-UBND ngày 23/1/2014 ban hành Quy định về bảo vệ môi trường nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc, Vĩnh Phúc.
  3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Báo cáo công tác quản lý nhà nước về môi trường 6 tháng đầu năm 2015, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2015 và tình hình triển khai Luật bảo vệ môi trường 2014, Hà Nội.

ThS. Nguyễn Trần Điện

Viện Công nghệ Môi trường

(Nguồn tin: Nilp.vn)