Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề ở một số nước trên thế giới và kinh nghiệm có thể vận dụng cho các làng nghề Việt Nam

23/12/2016

1. MỞ ĐẦU

Trong những năm qua, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì hoạt động làng nghề trên cả nước đã có bước nhảy vọt lớn, phát triển chưa từng thấy. Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trong vùng. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển sôi động đó thì tình trạng ô nhiễm môi trường (ONMT) ở nhiều làng nghề đã trở thành điều bức xúc, không những ảnh hưởng xấu tới cuộc sống và sức khỏe của người dân mà còn làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi. Một trong những lý do dẫn tới hiện trạng ONMT ở các làng nghề và tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) làng nghề đó là những bất cập trong thực hiện pháp luật (THPL) về BVMT làng nghề.

Thực tế cho thấy, những quốc gia mà hệ thống pháp luật dành sự quan tâm lớn cho việc THPL  trong đó có hoạt động kiểm soát ô nhiễm thì trình độ quản lý và BVMT làng nghề ở những quốc gia đó đã ở mức cao, điển hình như Nhật Bản, Singapore, Mỹ hay một số nước Châu Âu… Họ nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật BVMT, nhận thức được vai trò to lớn của hoạt động kiểm soát ONMT đối với sự phát triển bền vững của đất nước và con người họ và hiểu rõ những tác động của hoạt động BVMT làng nghề đối với hiệu quả cải thiện môi trường, đảm bảo an sinh xã hội cũng như phát triển kinh tế. Kết quả là ở những quốc gia này, khung pháp lý về BVMT đã tương đối hoàn thiện và được các chủ thể liên quan thừa nhận, chủ động thực thi và vận dụng một cách có hiệu quả vào hoạt động phát triển KT-XH của mình. Do đó, bài báo này sẽ đi sâu phân tích việc THPL về BVMT làng nghề của một số nước trên, từ đó rút ra kinh nghiệm có thể vận dụng trong việc THPL về BVMT làng nghề ở Việt Nam.

2. THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BVMT LÀNG NGHỀ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

2.1. Thực hiện pháp luật BVMT làng nghề của Nhật Bản

Ở Nhật Bản, các làng nghề được ra đời cách đây hàng trăm năm, thường ở các vùng ngoại ô thành phố hoặc ở các vùng nông thôn. Tuy có quy mô nhỏ, từ 23 đến 30 lao động, nhiều nơi có số lượng còn ít hơn 10 người, nhưng bất kì ai trong số họ đều có tay nghề rất cao. Việc THPL về BVMT làng nghề trong thời kỳ đầu, khi đất nước đang trong quá trình phát triển kinh tế, còn nhiều bất cập: các cơ sở sản xuất ở các làng nghề truyền thống Nhật Bản rất ít quan tâm đến việc BVMT làng nghề, đến việc quản lý và sử dụng chất thải trong quá trình sản xuất. Do vậy, hậu quả là môi trường ở các làng nghề Nhật Bản thời kỳ này bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân. Trước hiện trạng đó, năm 1967, Luật cơ bản về BVMT đã được ban hành, quy định về kế hoạch kiểm soát ONMT, đặc biệt đưa ra các tiêu chuẩn môi trường và hệ thống kiểm soát tổng tải lượng ô nhiễm [1]. Đến năm 1974, Nghị viện Nhật Bản đã ban hành luật Phát triển nghề thủ công truyền thống, trong đó có quy định một số vấn đề về BVMT trong các làng nghề [2]. Kết quả là các làng nghề thủ công Nhật Bản có những bước phát triển mới mẻ cũng như sự chuyển biến tích cực trong việc cải thiện chất lượng môi trường tại các làng nghề. Bên cạnh đó, chính phủ Nhật Bản còn ban hành một bộ tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng sản phẩm của các làng nghề trong đó phân loại chất lượng sản phẩm thành 5 cấp, từ 1 sao đến 5 sao dựa trên nhiều tiêu chí đánh giá, trong đó nổi bật nhất là các quy định về kiểm soát ONMT, sử dụng chất liệu thân thiện với môi trường và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Nếu các sản phẩm không thân thiện với môi trường, hoặc việc sản xuất ra nó gây ONMT, các làng nghề phải nộp một khoản phí môi trường. Vì vậy, các làng nghề đã đầu tư vào việc xử lý chất thải và công nghệ sản xuất sạch,… để thay cho việc nộp phí môi trường. Hơn nữa, việc quy định các làng nghề sẽ được nhận hỗ trợ từ phía chính phủ nếu đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép cũng góp phần nâng cao hiệu quả THPL về BVMT ở làng nghề Nhật Bản. Pháp luật quy định chính phủ chỉ hỗ trợ cho các sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên, cấp 5 sao được hỗ trợ nhiều nhất, cũng chính vì vậy các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở làng nghề Nhật Bản luôn tự phấn đấu để có các sản phẩm chất lượng cao đồng thời đảm bảo thân thiện với môi trường.

Năm 1979, Nhật Bản phát triển phong trào mỗi làng một sản phẩm và gắn với mô hình du lịch làng nghề, sử dụng nguồn tài nguyên hiệu quả [3]. Kết quả của phong trào này là làm sống lại các ngành nghề thủ công truyền thống Nhật Bản và việc THPL về bảo vệ tài nguyên đất và nước trong các làng nghề đã có những chuyển biến tích cực, những thành tựu nhất định.

Cho đến nay, Nhật Bản đã rất thành công trong việc THPL về BVMT làng nghề với việc ban hành đẩy đủ, kịp thời các văn bản QPPL, các tiêu chuẩn môi trường phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả THPL về BVMT làng nghề. Vấn đề kiểm soát ONMT ở làng nghề không chỉ được quy định trong những văn bản pháp luật chung về môi trường mà còn được thể hiện trong những đạo luật riêng về làng nghề. Việc khéo léo lồng ghép các ưu đãi về phí BVMT trong các quy định về bộ đánh giá chất lượng sản phẩm cũng là một nét độc đáo, mang lại hiệu quả cao. Cuối cùng phải kể đến là con người Nhật Bản cũng luôn có tinh thần, trách nhiệm cao trong việc THPL về BVMT làng nghề và sử dụng tài nguyên thiên nhiên rất tiết kiệm. Qua những việc làm và thành tựu đạt được của Nhật Bản, Việt Nam nên học hỏi và áp dụng một số cách làm phù hợp để cái thiện tình hình THPL về BVMT làng nghề nơi đây.

2.2. Thực hiện pháp luật BVMT làng nghề của Trung Quốc

Các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của Trung Quốc đã ban hành các văn bản QPPL quy định khá cụ thể việc THPL về BVMT, trong đó Luật BVMT năm 1979 (sửa đổi năm 1989) được coi là “luật khung” khi chỉ quy định những vấn đề chung, cơ bản và khái quát [4, 5]. Còn việc bảo vệ, quản lý các thành phần quan trọng của môi trường như nước, không khí, quản lý chất thải rắn và tiếng ồn được quy định trong các đạo luật riêng, đó là: Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước sửa đổi 1996 [6] được kết cấu và điều chỉnh theo hướng phân loại thành phần môi trường nước như nước mặt, nước ngầm; Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm chất thải rắn sửa đổi 2004 [7] được kết cấu và điều chỉnh theo hai tiêu chí gồm mức độ nguy hại của chất thải và nguồn phát thải; Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm không khí (ONKK) (1995, sửa đổi 2000) [8] được kết cấu và điều chỉnh theo nguồn gây ô nhiễm (như ONKK gây ra bởi hoạt động đốt than, bởi các phương tiện giao thông và chất thải khí, bụi, mùi…); Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn (1996) [9] được kết cấu và điều chỉnh theo từng hoạt động kinh tế - xã hội là nguồn gây ô nhiễm như ô nhiễm tiếng ồn nói chung, tiếng ồn công nghiệp, tiếng ồn xây dựng, tiếng ồn giao thông, tiếng ồn các hoạt động khác [10]. Ngoài ra, gần đây Hội đồng nhà nước và Bộ xây dựng Trung Quốc cũng đã ban hành một loạt chỉ tiêu kỹ thuật môi trường về khí thải, nước thải. Hiện Trung Quốc đang có 4 đạo luật liên quan đến lĩnh vực thuế BVMT đó là Thuế tài nguyên, Thuế tiêu thụ, Thuế đối với các phương tiện giao thông, tàu bè và Thuế mua các phương tiện giao thông. Các loại thuế này được ban hành nhằm định hướng cho các chủ thể sử dụng và khai thác tiết kiệm nguồn tài nguyên. Các sản phẩm từ các làng nghề truyền thống bị đánh thuế 5%, bất kể hàng hóa loại nào [11].

Trong lĩnh vực bảo vệ nguồn tài nguyên nước, phí nước thải được quy định tại Điều 18 Luật BVMT 1979 [4]. Trong những năm 1979-1981, phí ô nhiễm được áp dụng thử nghiệm ở 27 tỉnh, thành phố dưới sự giám sát trực tiếp của chính phủ. Năm 2003, hệ thống tính phí nước thải của Trung Quốc đã có một số thay đổi: việc tính phí được dựa trên tải lượng chứ không chỉ dựa trên nồng độ, phí được tính với tất cả các đơn vị ô nhiễm, phí được tính với hơn 100 thông số ô nhiễm trong nước thải. Các tiêu chuẩn do Bộ Môi trường quy định thay đổi, tùy thuộc vào ngành nghề và mức phí thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm. Ngoài ra, các địa phương có thể tự đặt ra các tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ hơn tiêu chuẩn môi trường quốc gia và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí do Bộ Môi trường Trung Quốc quy định [12]. Bên cạnh đó, một số chính sách ưu đãi thuế cũng được Trung Quốc áp dụng với mục đích kêu gọi tiết kiệm năng lượng ở các làng nghề như thực hiện ưu đãi thuế giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng sử dụng năng lượng sạch, khuyến khích tái sử dụng chất thải và phế liệu trong sản xuất. Đối với những cơ sở sản xuất ở làng nghề có chuyển giao công nghệ BVMT hay công nghệ tiết kiệm nguồn tài nguyên cũng được miễn thuế thu nhập. Những chính sách nêu trên đã góp phần nâng cao nhận thức về BVMT làng nghề của các địa phương. Phong trào sử dụng công nghệ phát triển sạch trong sản xuất thủ công của các làng nghề hiện nay trở nên tích cực hơn. Năm 2006, lãnh đạo thôn Ái Dân, thành phố Du Thụ nơi có làng nghề trồng rau củ lớn nhất ở vùng Hoa Bắc đã thí điểm thực hiện mô hình cải thiện môi trường xanh nông thôn thu gom rác thải “phân loại, tập trung ủ phân, thống nhất bón trên ruộng”. Trên cơ sở trưng cầu ý dân, Đảng ủy thị trấn đã hướng dẫn thôn Ái Dân ban hành “Quy định thôn” và “Quy ước hộ nông dân”, quy định đối với người dân trong thôn. Theo đó, thị trấn đã tổ chức thực hiện: “Một là, mỗi làng chọn ra hai khu vực tập kết rác thải làm phân bón, rác thải của các hộ gia đình do các hộ tự thu gom và vận chuyển; rác thải công cộng do nhân viên chuyên thu gom và vận chuyển. Các hộ nuôi lợn lắp đặt hệ thống Bi-ô-ga để tận dụng nguồn phân lợn tại chỗ, sản xuất khí ga phục vụ sinh hoạt; dùng nước tiểu pha loãng rồi định kỳ tưới lên bãi rác thải nơi làm phân bón chôn tập trung. Hai là, Phó Bí thư chi bộ các thôn phụ trách quản lý công tác thu gom rác thải của toàn thôn, định kỳ kiểm ra hoạt động làm sạch môi trường. Rác thải do các hộ tự vận chuyển sẽ do nhân viên thu gom rác phân loại quản lý và ủ tập trung. Ba là, rác thải không xử lý được sẽ để riêng và chôn lấp tập trung”. Sở Bảo vệ môi trường và Sở Nông nghiệp thành phố sẽ tổ chức tập huấn cho nhân viên thu gom rác thải làm phân bón, tiền lương sẽ được giải quyết theo cơ chế làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, con số cụ thể sẽ tính theo số lượng thu gom được. Việc tuyên truyền phổ biến kiến thức về BVMT làng nghề cho người dân làng nghề cũng đã được thực hiện và không ngừng đổi mới, hoàn thiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm, BVMT trong toàn thị trấn, công tác xử lý và cải thiện môi trường được tăng cường hơn [13].

Tuy nhiên, việc THPL về BVMT ở một số làng nghề vẫn còn chưa nghiêm, điển hình là các làng nghề thủ công truyền thống ở hai bên sông Trường Giang, có quy mô nhỏ, hộ gia đình và không theo quy hoạch: các làng nghề không được trang bị hệ thống xử lý nước thải, chất thải nguy hại… nên hầu hết chất thải được xả trực tiếp ra môi trường, vi phạm pháp luật môi trường. Điển hình là các làng nghề tuyển sắt và chế biến nhựa ở Mã Yên Sơn, mỗi năm đổ xuống sông khoảng 14 tỷ tấn rác thải làm cho đời sống thủy sinh ở đây bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến sản lượng đánh bắt giảm mạnh [14, 15]. Tình hình vi phạm là vậy, tuy nhiên, chính quyền tại một số địa phương không chú ý nhiều, chỉ khi nào xảy ra xô xát, người dân biểu tình mạnh mẽ thì chính quyền mới thực thi pháp luật hay thực hiện đóng cửa các cơ sở sản xuất, kinh doanh đó.

Tóm lại, Trung Quốc đã thành công trong việc ban hành đầy đủ các văn bản QPPL về BVMT trong đó có BVMT làng nghề. Từng lĩnh vực đều có một bộ luật riêng quy định việc THPL về BVMT, tài nguyên. Tuy nhiên, trong thực tế, khi triển khai thực hiện thì vẫn còn những bất cập. Đây cũng là một kinh nghiệm cho Việt Nam khi việc ban hành đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đảm bảo việc thực hiện tốt pháp luật về BVMT làng nghề.

2.3. Thực hiện pháp luật BVMT của Singapore

Chính phủ Singapore đã ban hành các đạo luật về môi trường và quy định rõ các biện pháp thi hành, các chế tài dân sự, hành chính hay tăng cường áp dụng các biện pháp hình sự đối với các chủ thể vi phạm pháp luật môi trường [16]. Bên cạnh Luật Quản lý và BVMT năm 1999, sửa đổi năm 2002 [10, 17], được coi là một đạo luật khung, một loạt các văn bản liên quan đến pháp luật môi trường đã được ban hành, gồm: Luật không khí sạch, Luật chất thải nguy hại, Luật hệ thống thoát nước, Luật về môi trường và sức khỏe cộng đồng,... quy định các vấn đề về tiếng ồn, vệ sinh công cộng, quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại cũng như các vấn đề liên quan khác.

Singapore đề ra chiến lược THPL về BVMT bao gồm 04 yếu tố: Phòng chống - Thực thi - Giám sát và Giáo dục. Vấn đề phòng ngừa ONMT sẽ có hiệu quả cao nếu kế hoạch sử dụng đất được lập một cách hợp lý; xây dựng kế hoạch kiểm soát ô nhiễm đồng thời cung cấp các thiết bị thu gom, xử lý chất thải phù hợp; giám sát thường xuyên để đánh giá đầy đủ và chính xác các hoạt động kiểm soát ONMT. Các dữ liệu về chất lượng môi trường cũng được sử dụng để phục vụ cho hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật về kiểm soát ONMT. Tiếp đến là tiến hành giáo dục công chúng về kiểm soát ô nhiễm và BVMT. Ngày càng có nhiều chất thải, chất thải nguy hại phát sinh gây ra ONMT do sự gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế. Do vậy, Singapore không thể dựa hoàn toàn vào sự mở rộng cơ sở hạ tầng để đối phó lượng chất thải ngày càng gia tăng; cũng không dựa hết vào việc cưỡng chế để chống lại ONMT. Cần phải tăng cường hoạt động giảm thiểu phát sinh chất thải cũng như hạn chế tác động của chất thải và chất ONMT. Phương pháp hữu hiệu lại là đánh giá từ phía người sử dụng các thành phần môi trường nhiều hơn, tức là áp dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng và sử dụng tài nguyên hiệu quả sẽ giúp giảm thiểu các chất thải và hạn chế ô nhiễm. Hướng tới những mục tiêu này, hi vọng nuôi dưỡng một quốc gia là chủ động theo đuổi lối sống thân thiện với môi trường, thói quen và công nghệ. Cần phải nhận thức tốt và quan tâm nhiều hơn nữa đến THPL về BVMT. Cũng phải nhấn mạnh rằng chiến lược thiết yếu vì môi trường bao gồm: Đạt được mức độ nhận thức cao về môi trường, Thúc đẩy công nghệ làm sạch môi trường và bảo tồn tài nguyên, BVMT địa phương cũng như môi trường toàn cầu [18].

Bên cạnh đó, để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường, Singapore đã quy định các biện pháp cưỡng chế khác nhau, bao gồm cả biện pháp xử lý hình sự, biện pháp hành chính và biện pháp dân sự.

- Biện pháp xử lý hình sự: áp dụng đối với những người bị kết án phạt tiền, phạt tù, bắt bồi thường và đối với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động bắt buộc (chỉ áp dụng đối với những bị cáo từ 16 tuổi trở lên). Cụ thể, hình thức phạt tiền, là hình thức phổ biến nhất được quy định trong các đạo luật về môi trường, bao gồm nhiều mức độ phạt tiền khác nhau, tùy thuộc vào các đạo luật khác nhau và mức độ nguy hiểm của hành vi gây ra. Hình thức phạt tiền được quy định một cách rất linh hoạt đối với các vi phạm ít nghiêm trọng như cho phép người vi phạm trả một khoản tiền thích hợp cho Bộ Môi trường Singapore và vụ việc sẽ được tự kết thúc mà không phải đưa ra Tòa. Hình thức phạt tù, là chế tài nghiêm khắc nhất áp dụng đối với những người vi phạm ở mức độ nghiêm trọng. Theo quy định tại Luật về môi trường sức khỏe cộng đồng và Luật kiểm soát ô nhiễm thì những người vi phạm lần đầu bị buộc tội về hành vi đưa chất thải hoặc các chất độc hại vào nguồn nước ngầm có thể phạt tù đến 12 tháng. Đối với những người tái phạm thì có thể bị phạt tù với chế độ khắc nghiệt từ 1 đến 12 tháng; hình thức tạm giữ và tịch thu: đối với các công cụ, phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội. Ví dụ, trường hợp thực phẩm không phù hợp cho con người có thể bị tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại Luật về môi trường và sức khỏe cộng đồng. Hình thức lao động cải tạo bắt buộc: cũng là một biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn các vi phạm nhỏ, những người vi phạm đã bị áp dụng hình phạt này rất ít khi lặp lại hành vi đã vi phạm.

- Biện pháp hành chính: thường xuyên sử dụng những chế tài hành chính rất hiệu quả như kế hoạch sử dụng đất, cấp giấy phép và việc ban hành các mệnh lệnh thông báo. Cụ thể, lập kế hoạch sử dụng đất: là biện pháp mang tính phòng ngừa cao. Các khu vực dành cho công nghiệp nặng, công nghiệp vừa và công nghiệp làm sạch được phân ranh giới rõ ràng. Có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Môi trường và các cơ quan liên quan như Ủy ban tái phát triển đô thị và Cục kiểm soát xây dựng. Cấp giấy phép và giấy chứng nhận: thuộc thẩm quyền của Bộ Môi trường nhằm đảm bảo kiểm soát và quản lý chặt chẽ các hoạt động có khả năng gây ONMT. Trước khi một hoạt động phát triển được phép tiến hành, Bộ Môi trường phải đảm bảo là hoạt động đó sẽ không gây ảnh hưởng xấu cho môi trường và con người. Thông báo và lệnh: áp dụng trong trường hợp người chủ sở hữu hoặc quản lý một tài sản không tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn môi trường hay các điều kiện khác về môi trường. Thông báo và lệnh này sẽ yêu cầu chủ thể này phải tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong đó. Nếu không thực hiện các yêu cầu đó, chủ sở hữu hoặc quản lý tài sản đó phải chịu trách nhiệm trước tòa án và phải chịu hình phạt. Bên cạnh đó, để đảm bảo yếu tố dân chủ, pháp luật Singapore còn quy định người nhận được lệnh hoặc thông báo nếu không đồng ý với yêu cầu đề ra trong đó thì có thể nộp đơn phản đối. Đơn phản đối đó sẽ được Bộ trưởng Bộ có liên quan quyết định là giữ nguyên, thay đổi hoặc bãi bỏ lệnh hoặc thông báo. Quyết định của Bộ trưởng là quyết định cuối cùng. Do tính cấp thiết của pháp luật môi trường nên trong các đạo luật về môi trường của Singapore cũng đã trao cho Bộ trưởng một số quyền hạn chế để thực thi các công việc khẩn cấp, nhằm thi hành ngay bất kỳ nhiệm vụ nào nếu nhiệm vụ đó là cấp bách đối với sự an toàn xã hội, sức khỏe hay dịch vụ cộng đồng.

- Biện pháp dân sự: Pháp luật Singapore yêu cầu cá nhân gây ô ONMT phải nộp phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí và các khoản phí tổn mà cơ quan có thẩm quyền phải chịu để làm sạch môi trường. Trong vòng 14 ngày theo quy định, nếu chi phí này chưa được thanh toán thì vụ việc sẽ được đưa ra Tòa [16].

Như vậy, có thể thấy ở Singapore, các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT được ban hành khá đầy đủ, việc áp dụng pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT được thực hiện rất nghiêm minh, đặc biệt là việc áp dụng các chế tài, các hình thức xử lý khắt khe các đối tượng vi phạm pháp luật về BVMT nhằm răn đe và có tính chất ngăn ngừa cao. Do đó, việc tuân thủ pháp luật về BVMT của người dân, các cơ sở sản xuất, kinh doanh là rất nghiêm túc. Đây sẽ là những kinh nghiệm quý báu cho việc hoàn thiện quá trình xây dựng và tổ chức THPL về BVMT làng nghề ở nước ta.

3. MỘT SỐ KINH NGHIỆM THAM KHẢO CHO VIỆT NAM

Đứng trước những thách thức về môi trường, trước thực trạng về THPL về BVMT làng nghề ở Việt Nam, chúng ta cần phải có những cải cách ngay trong những quy định của pháp luật, trong hành động cũng như trong nhận thức của người dân. Các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore đã từng rơi vào tình trạng ONMT nghiêm trọng, nhưng sau đó họ đã có những biện pháp vô cùng hữu hiệu để kiểm soát và BVMT, đảm bảo an sinh xã hội và phát triển kinh tế. Những hành động của Nhật Bản, Singgapore và Trung Quốc… đã mang lại những gợi mở vô cùng quý giá cho Việt Nam trong việc THPL về BVMT làng nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cụ thể:

Thứ nhất là, cần ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT làng nghề. Các biện pháp được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thường xuyên được xem xét định kỳ để bổ sung cho chặt chẽ và hợp lý hơn. Học tập kinh nghiệm Nhật Bản, Trung Quốc đã rất thành công trong việc ban hành kịp thời và cụ thể cho từng đối tượng (đất, nước, không khí, tiếng ồn, chất thải) các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp, ban hành đầy đủ các quy định, các tiêu chuẩn kiểm soát ONMT ở các làng nghề. Ngoài ra, vấn đề THPL về BVMT ở làng nghề không chỉ được quy định trong những văn bản pháp luật chung về môi trường mà còn cần được thể hiện trong một đạo luật riêng về làng nghề.

Thứ hai là, học tập kinh nghiệm của Nhật Bản, đề cao các sáng kiến của chính quyền ở các địa phương trong việc THPL về BVMT làng nghề bởi chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kiểm soát ONMT. Họ đã đưa ra được những sáng kiến tích cực, thích ứng riêng với điều kiện đặc thù của địa phương mình và kết hợp với các biện pháp của chính quyền Trung ương như tăng cường các quy định về kiểm soát ô nhiễm, hỗ trợ tài chính và bổ sung các biện pháp từ khu vực tư nhân… Điều đó đã mang lại những hiệu quả to lớn trong phát triển kinh tế và đã đi đầu trong việc thúc đẩy các chính sách môi trường trên khắp đất nước Nhật Bản. Đây sẽ là một gợi mở tốt cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và tổ chức THPL về BVMT do các hoạt động ONMT làng nghề gây ra ở Việt Nam.

Thứ ba là, khuyến khích các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất làng nghề tham gia trực tiếp vào THPL về BVMT làng nghề bởi việc THPL về BVMT làng nghề là trách nhiệm của toàn xã hội và nếu thực hiện có hiệu quả thì có thể nâng cao doanh số kinh doanh của họ một cách nhanh chóng. Điều này được minh chứng bởi kết quả của nền công nghiệp Nhật Bản đã dẫn đầu thế giới về công nghệ môi trường trong giai đoạn vừa qua. Gợi mở này sẽ rất giá trị để các nhà lập pháp Việt Nam có thể tham khảo giải quyết các vấn đề vướng mắc cụ thể trong quá trình tổ chức THPL về BVMT tại khu vực làng nghề ở Việt Nam.

Thứ tư là, quản lý và xử lý chất thải toàn diện ở các làng nghề. Học tập kinh nghiệm ở Singapore, công tác quản lý chất thải của chúng ta ở các khu vực làng nghề nên đặt sẵn mục tiêu ngăn ngừa và hạn chế chất thải ngay từ nguồn thải là ưu tiên số một. Sau đó mới tính đến việc giảm thiểu chất thải phát sinh bằng các biện pháp xử lý làm biến đổi những đặc tính có hại của chất thải hoặc áp dụng các công nghệ sản xuất sạch trong sản xuất ở làng nghề. Đối với các chất thải thì cố gắng tái sử dụng, tái chế lại ở một mức độ cho phép. Giải pháp tiếp theo là xử lý chất thải bằng các công nghệ tiên tiến và cuối cùng khi tất cả các giải pháp đã được khai thác triệt để rồi mới tính đến phương pháp tiêu hủy cuối cùng.

Thứ năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở địa phương và giáo dục nghiêm về BVMT do các hoạt động của làng nghề gây ra bởi sự nhận thức của người dân ở làng nghề về môi trường là yếu tố quan trọng, là cơ sở để duy trì và đảm bảo môi trường trong lành. Việc thực hiện nhiều chương trình tuyên truyền giáo dục về BVMT làng nghề sẽ thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội dân sự vào hoạt động BVMT làng nghề. Các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT làng nghề cần thường xuyên làm việc với các tổ chức xã hội để thực hiện những chiến dịch giáo dục tới các cộng đồng dân cư ở làng nghề. Trung Quốc là một trong những nước đã làm rất tốt công tác này.

4. KẾT LUẬN

Thông qua việc phân tích tình hình THPL về BVMT làng nghề của một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Sinhgapore, một số kinh nghiệm học tập từ các nước trên thế giới có thể áp dụng cho sự nghiệp BVMT làng nghề ở Việt Nam, đó là:

- Cần thiết lập, hoạch định một chiến lược THPL về BVMT do các hoạt động làng nghề gây ra một cách tổng thể, toàn diện, hợp lý và nhất quán.

- Đề cao các sáng kiến của chính quyền địa phương trong THPL về BVMT làng nghề bởi chính quyền địa phương đóng vai trò vô cùng quan trọng.

- Khuyến khích các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở làng nghề tham gia trực tiếp vào quá trình THPL về BVMT làng nghề.

- Quản lý và xử lý chất thải toàn diện ở các làng nghề: ngăn ngừa và hạn chế chất thải ngay từ nguồn thải là ưu tiên số một, sau đó mới tính đến việc giảm thiểu chất thải phát sinh bằng các biện pháp xử lý chất thải hoặc áp dụng các công nghệ sản xuất sạch trong sản xuất ở làng nghề.

- Ban hành pháp luật và giáo dục nghiêm trong THPL về BVMT do các hoạt động của làng nghề gây ra.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Aki Nakauchi - Cục Sức khỏe Môi trường - Bộ Môi trường Nhật Bản, (2013), “Kinh nghiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường của Nhật Bản”, tại trang http://reds.vn/index.php/phat-trien-ben-vung/4388-bai-hoc-kiem-soat-o-nhiemmoi-truong-cua-nhat-ban, [truy cập ngày 20/7/2015].

2. Phạm Thị Huyền (2013), “Mô hình mỗi làng một sản phẩm của Nhật Bản: Phiên bản nào cho Việt Nam?”, Tạp chí Công thương, (5).

3. Trung tâm Nghiên cứu khoa học - Viên Nghiên cứu lập pháp (2013), Kinh nghiệm một số nước trên thế giới trong xây dựng pháp luật về bảo vệ môi trường, Hà Nội.

4. Đỗ Nam Thắng (2010), “Kinh nghiệm quốc tế về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp và đề xuất định hướng cho Việt Nam”, Tạp chí Môi trường, (7).

5. China Radio International.CRI (2011), “Thành phố Du Thụ, Tỉnh Cát Lâm sáng tạo mô hình cải thiện môi trường nông thôn”, tại trang http://vietnamese.cri.cn, [truy cập ngày 10/3/2012].

6. Ngọc Sơn (theo Reuters) (2006), “Sông Dương Tử sắp chết”, tại trang http//vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi, [truy cập ngày 15/3/2013].

7. REDS.VN chuyên trang môi trường (2013), “Bài học bảo vệ môi trường từ luật pháp Singapore”, tại trang http://www.reds.vn/index.php/phat-trien-ben-vung/4838-bao-ve-moi-truong-va-luat-phap-singapore, [truy cập ngày 30/9/2013].

8. A.T. Loh (1998), The experience of Singapore in the control of pollution, Singapore Journal of International & Comparative Law, 2: 507 - 510.

TS. Nguyễn Trần Điện

Viện Công nghệ Môi trường, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

(Nguồn tin: Nilp.vn)