Công nhân chế biến thủy hải sản với nỗi lo bệnh tật

06/01/2014
Chế biến, xuất khẩu thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Do đặc thù công việc, lao động trong ngành hầu hết là nữ. Mặc dù nữ công nhân lao động đã có những đóng góp không nhỏ vào quá trình phát triển của ngành xuất khẩu thủy sản nước nhà, nhưng có một thực tế đáng buồn đó là đời sống, điều kiện làm việc của chị em công nhân vẫn chưa nhận được quan tâm đúng mức từ phía doanh nghiệp. Bên cạnh gánh nặng mưu sinh họ còn phải đối mặt với nhiều nỗi lo, trong đó có nỗi lo về bệnh tật...

     Theo Bộ NN và PTNT Việt Nam, hiện nay cả nước có 401 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thủy sản đạt tiêu chuẩn về điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong số này Đồng bằng Sông Cửu Long có 182 doanh nghiệp, nhiều nhất là các tỉnh Cà Mau (30 doanh nghiệp), thành phố Cần Thơ (29 doanh nghiệp). Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thủy sản đa phần là các doanh nghiệp tư nhân, thường thuê mướn nhân công theo thời vụ.

NLĐ trong ngành chế biến thủy sản ngoài việc phải đối diện với áp lực tăng ca liên tục, môi trường nhiệt ẩm cao, yếu tố bất lợi trong lao động do quy trình sản xuất dây chuyền thì còn phải thường xuyên tiếp xúc với hóa chất. Tại các công ty chế biến thủy hải sản xuất khẩu, thực hiện tiêu chuẩn chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm là ưu tiên hàng đầu, là điều kiện bắt buộc để tồn tại và phát triển. Do đó, các nhà máy thường sử dụng chlorine để khử trùng nguồn nước và môi trường lao động. Theo các chuyên gia về y học lao động, khí chlorine là một loại hóa chất có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và nguy cơ mắc BNN. Cụ thể, nó gây viêm phế quản, phá hủy đường hô hấp trên, biểu hiện gây kích thích như hắt hơi, chảy mũi nước, chảy nước mắt. Trong khi đó, mặc dù hiện nay nhiều nhà xưởng trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản có sử dụng quạt thông gió nhưng lại hạn chế để tránh thất thoát hơi lạnh. Phương tiện bảo vệ cá nhân được trang bị cho công nhân như quần áo lao động, khẩu trang vải, ủng cao su, găng tay... về cơ bản không thể cách li hoàn toàn nguồn hóa chất ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân, chưa kể khẩu trang vải không có tác dụng ngăn mùi hóa chất.

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng điều kiện làm việc đến bệnh tật và sức khỏe NLĐ trong ngành chế biến thủy sản. Cuối năm 2007, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe thành phố Cần Thơ đã tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học cấp Sở “Mối liên quan giữa tiếp xúc thường xuyên chất chlorine và bệnh viêm mũi xoang ở những công nhân chế biến thủy hải sản Cần Thơ 2000 - 2007” tại hai doanh nghiệp. Kết quả cho thấy ở nhóm tiếp xúc có 221/440 công nhân mắc bệnh viêm mũi xoang, chiếm hơn 50%; trong khi nhóm không tiếp xúc chỉ có 99/437 công nhân mắc bệnh viêm mũi xoang, chiếm gần 23%. Như vậy, tỉ suất mới mắc bệnh viêm mũi xoang ở nhóm tiếp xúc cao hơn nhóm không tiếp xúc là 2,7 lần. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu này, tác giả đề tài nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất nhằm hạn chế mắc bệnh viêm mũi xoang ở công nhân chế biến thủy sản như: định kỳ giám sát nồng độ chất chlorine; doanh nghiệp tổ chức tập huấn an toàn sử dụng hóa chất, sơ cấp cứu TNLĐ, tập huấn theo các giáo trình sức khỏe liên quan; khám sức khỏe định kỳ phải chẩn đoán xác định viêm mũi xoang; điều trị kịp thời các trường hợp bệnh lý; khi tuyển dụng lao động sàng lọc những người có “vấn đề” liên quan bệnh lý ở mũi xoang và dị ứng để không nhận vào làm việc. Đặc biệt là đề nghị cần có chế độ bồi dưỡng độc hại cho NLĐ thường xuyên tiếp xúc với loại hóa chất này. Tuy nhiên, trên thực tế những đề xuất, kiến nghị này không mấy khi được các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc. Nhiều doanh nghiệp trong ngành chế biến thủy sản đã không thực hiện ký hợp đồng với NLĐ để trốn tránh việc thực hiện các chế độ với NLĐ.

Luật Lao động của nước ta đã quy định rõ: NSDLĐ phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo quy định, trang bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân đảm bảo an toàn cho NLĐ. Thế nhưng việc này rất ít các doanh nghiệp chế biến thủy sản thực hiện. Đáng chú ý hầu hết ở các doanh nghiệp chế biến thủy sản tư nhân đều không có tổ chức Công đoàn, nên khi chị em công nhân có nguyện vọng muốn đề xuất lên lãnh đạo công ty hay khi cần một tổ chức đại diện để đòi hỏi quyền lợi cho mình thì không biết phải làm thế nào. Trong khi đó, hầu hết trình độ học vấn của công nhân trong các doanh nghiệp chế biến thủy sản lại thấp, chưa biết tự bảo vệ mình. Vì vậy họ thường có tâm lý an phận, chấp nhận. Rất nhiều NLĐ đã phải ngậm ngùi bỏ ngang công việc khi phát hiện ra mình có những triệu chứng bất thường mặc dù biết tương lai phía trước phải đối diện với thất nghiệp và bệnh tật.

     Tương lai của những nữ công nhân lao động trong ngành chế biến thủy hải sản sẽ đi về đâu? Ai bảo vệ quyền lợi cho họ?... đang là những câu hỏi thường trực mà NLĐ trong ngành nghề này đặt ra. Trước vấn đề nhức nhối này, các Sở, ban, ngành chức năng cần có những động thái tích cực, nhanh chóng tìm ra các giải pháp tháo gỡ để bảo vệ lực lượng lao động trong ngành này, giúp họ yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nhất là không phải thường trực với nỗi lo “chết trong bệnh tật” hay “sống mòn” trong môi trường độc hại.

(Nguồn tin: TC BHLĐ 12/2013)