Tọa đàm an toàn lao động để phát triển bền vững

15/05/2019
Vừa qua, TS. Đỗ Trần Hải, Viện trưởng Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động đã tham gia vào buổi Tọa đàm ATLĐ để phát triển bền vững tại Quảng Ninh. Buổi tọa đàm là nơi để chia sẻ những kinh nghiệm, những nguyên nhân, khó khăn trong vấn đề về An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ). Dưới đây là bài phát biểu của Viện trưởng trong buổi Tọa đàm này:

Chúng ta sẽ phải nhìn nhận một cách thẳng thắn đối với vấn đề ATVSLĐ, nguyên nhân xảy ra các vụ TNLĐ tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng và cả nước nói chung là do đâu, thưa tiến sĩ Đỗ Trần Hải?

TS. Đỗ Trần Hải: Nguyên nhân xảy ra tai nạn rất là nhiều, và nó phụ thuộc vào từng ngành lĩnh vực sản xuất. Ở tỉnh Quảng Ninh, theo tôi đây là một địa phương mà ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu là ngành khai thác mỏ nên những TNLĐ trong những ngành khai thác mỏ cũng tương đối đặc thù. Ví dụ như từ đầu năm đến nay TNLĐ ở trong mỏ như liên quan đến nổ mìn, sự thiếu cẩn trọng trong các công tác nổ mìn phá đá cũng gây ra tình trạng tai nạn chết người. Hay như trong môi trường lao động, khi NLĐ thiếu sự thận trọng, không quan tâm đầy đủ đến điều kiện làm việc của mình, như quý vị biết, ở Quảng Ninh, trong khai thác mỏ có những trường hợp NLĐ bị tai nạn chết người đơn giản chỉ vì họ trượt chân ngã và bị va đập vào những trang thiết bị ở trong khu vực làm việc. Thế còn trong một lĩnh vực khác, tỷ trọng TNLĐ và TNLĐ gây chết người cao nhất là trong lĩnh vực xây dựng, không chỉ ở Việt Nam mà ở các khu vực trên thế giới, tôi đơn cử hiện nay như ở Hàn Quốc, trong 971 trường hợp TNLĐ chết người năm 2018, trong ngành TNLĐ xây dựng của họ đã chiếm tới 485 người, tức là khoảng 50%, thì chủ yếu là do NLĐ không sử dụng đầy đủ trang thiết bị phòng hộ gây ra ngã cao. Hoặc giả như trong quá trình thi công sử dụng trang thiết bị không đảm bảo an toàn gây sập giàn giáo. Rất nhiều các trường hợp như trường hợp ở Tiền Giang, sập giàn giáo và TNLĐ xảy ra ở trong khối không có quan hệ lao động hoặc là phi kết cấu có nguy cơ ngày càng tăng, do NLĐ không được huấn luyện không được cấp chứng nhận về ATVSLĐ, tất nhiên là còn nhiều nguyên nhân khác tuy nhiên một trong những nguyên nhân điển hình từ trước đến nay là do thiếu sự quan tâm của NSDLĐ, tỷ lệ xấp xỉ khoảng 50%, đây là con số thống kê của Bộ LĐTBXH mặc dù con số thống kê xấp xỉ 6% tổng số các doanh nghiệp trên cả nước nhưng nguyên nhân vẫn là do NSDLĐ.

Theo ông, những khúc mắc bất cập trong việc thực hiện chính sách pháp luật về ATVSLĐ tại nước ta là gì?

TS. Đỗ Trần Hải: Hiện nay theo quy định có một số phân cấp cho các Bộ, tôi không rõ Quảng Ninh có gặp vấn đề này không nhưng vừa rồi trong buổi làm việc qua đánh giá của ủy ban về các vấn đề về xã hội của quốc hội sau 3 năm thực hiện luật ATVSLĐ thì cũng thấy rằng có một số các bất cập ví dụ như do chính sách, quy định. Ví dụ như người ta đi kiểm định một máy cẩu, Bộ Công Thương cấp giấy phép nhưng không có giấy phép của Bộ Xây Dựng thì máy cẩu đó không thể đưa vào công trình xây dựng được, việc đó cũng nảy sinh ra vấn đề là việc phân cấp quản lý liên quan đến vấn đề ATVSLĐ theo bộ ngành. Ngoài ra, theo luật lao động trước quy định của luật bảo hiểm, chúng ta phải đóng 1% bảo hiểm TNLĐ và BNN nhưng việc quy định chi trả quỹ này hiện nay hết sức khó khăn, chính vì vậy Chính phủ đã điều chỉnh xuống 0,5%, nhưng tích lũy quỹ này rất là lớn mà thậm chí Tổng lao động cũng kiến nghị với Chính phủ xem xét thành lập một Bệnh việc sức khỏe nghề nghiệp để chuyên điều trị chữa chạy những người bị TNLĐ và BNN để tìm cách phục hồi sức khỏe đưa họ trở lại công việc. Thì tôi cho rằng đây là những vấn đề bất cập nhưng cũng không phải không giải quyết được. Và nên có chính sách phù hợp, giám định lại sức khỏe cho NLĐ.

Khi công nhân lao động bị TNLĐ nhưng không giám định được mức độ tổn thương thì lấy căn cứ gì để giải quyết chế độ cho NLĐ?

TS. Đỗ Trần Hải: Theo như tôi biết, quan điểm của Bộ Lao động là nếu để xảy ra những vụ TNLĐ nặng, gây chết người thì khả năng NSDLĐ sẽ bị đưa ra truy tố là rất cao. Vừa rồi, trong bài phát biểu của thanh tra Bộ Lao động trong hội nghị nhân tháng ATVSLĐ phát động tại Quảng Nam, theo như tôi biết có 2 vụ đã được khởi tố là vụ sập bức tường ở Tiền Giang gây ra cái chết cho 7 NLĐ và vụ sập giàn giáo ở Châu Đốc An Giang, đấy là những vụ điển hình đưa ra khởi tố chứ không phải chỉ đơn giản là đưa ra xem xét truy cứu trách nhiệm của NSDLĐ. Vì vậy trách nhiệm chính khi xảy ra TNLĐ nghiêm trọng là của NSDLĐ.

Kinh nghiệm của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam rút ra từ các vụ TNLĐ điển hình trong toàn quốc thời gian qua?

TS. Đỗ Trần Hải: Nguyên nhân thì rất đa dạng, bây giờ rút được ra nguyên nhân chủ yếu như thế nào thì Tổng Liên đoàn cũng không đủ điều kiện để chốt được. Tuy nhiên, tôi cho rằng như lúc đầu chúng ta phân tích thì về cơ bản, nguyên nhân chủ quan là từ NSDLĐ cũng như NLĐ trong việc chấp hành các chính sách về ATVSLĐ, trong việc sử dụng các trang thiết bị BHLĐ không đúng quy cách, trong việc một số NLĐ không được đào tạo huấn luyện, thậm chí là không được đào tạo nghề một cách bài bản thì đấy là những nguyên nhân hết sức cơ bản mà trong quá trình TLĐLĐVN tham gia với các đoàn kiểm tra đánh giá về TNLĐ, cũng thấy rằng nguyên nhân chủ yếu hiện nay là do ý thức của NSDLĐ và NLĐ. Họ có thể được đào tạo, được cấp chứng chỉ đã học huấn luyện ATVSLĐ nhưng từ nhận thức biến ra thành hành động lại là một chuyện khác. Tôi cho rằng đây là một trong những vấn đề mà trong thời gian tới tổ chức công đoàn cũng phải phối hợp với các cơ quan nhà nước để tiếp tục động viên NLĐ trong việc có ý thức tốt thực hiện công tác ATVSLĐ trong quá trình sản xuất bởi vì họ thực hiện tốt cái đó là để bảo vệ chính bản thân họ.

Vâng, NLĐ phải có ý thức tự bảo vệ bản thân mình là tuân thủ các quy định quy tắc trong ATVSLĐ, còn đối với chủ DN thì sao, phải có những giải pháp nào để giảm thiểu TNLĐ xảy ra?

TS. Đỗ Trần Hải: Thực chất, bây giờ xu hướng trên thế giới hiện nay là người ta yêu cầu các chủ doanh nghiệp, các doanh nghiệp sản xuất phải đánh giá được các nguy cơ rủi ro trong quá trình sản xuất của mình và đưa ra giải pháp phòng ngừa. Hiện nay, phong trào phòng ngừa TNLĐ (được gọi là văn hóa phòng ngừa) là phong trào chung trên toàn thế giới. Các đại hội ATVSLĐ trên thế giới 2 năm được tổ chức một lần thì hiện nay họ đưa phong trào văn hóa phòng ngừa bên cạnh văn hóa ATLĐ là thành 2 phong trào được tổ chức lao động quốc tế, tổ chức y tế thế giới hết sức động viên để thực hiện việc đó. Và NSDLĐ ở Việt Nam đã đưa vào quy định, năm nay chủ đề của Tháng ATVSLĐ năm 2019 cũng là đánh giá phòng ngừa rủi ro làm sao có thể giảm thiểu TNLĐ. Ở đây, tôi cho rằng, trách nhiệm của NSDLĐ là phải thực hiện thật tốt công tác này, và nó cũng được đưa vào luật rồi. Hiện nay, tôi cho rằng, trong xu thế hội nhập thì chúng ta cũng buộc phải thực hiện tuân thủ các tiêu chuẩn. Tháng 3/2018 đã ban hành tiêu chuẩn ISO 45001-2018 về hệ thống quản lý ATVSLĐ ở trong các doanh nghiệp. Tôi cho rằng, xu thế sắp tới mà chúng ta hội nhập, chúng ta tham gia ngày càng sâu rộng vào các hiệp định thương mại thì chúng ta không thể tránh được việc này. Và tôi kêu gọi các chủ doanh nghiệp tìm cách đưa hệ thống quản lý này vào trong hệ thống quản lý chung của mình. Hiện nay, những DN xuất khẩu không thể tránh được, trước họ sử dụng hệ thống OHSAS 18000 (trong đó có 18001, 18002) nhưng từ nay đến 2021 hệ thống đó chuyển hết sang hệ thống quản lý chung theo chuẩn ISO, chuẩn quốc tế. Tôi cho rằng, đấy là một trong những xu hướng, một trách nhiệm của một doanh nghiệp trong việc giảm thiểu nguy cơ và góp phần giảm TNLĐ.

Nhân viên và thiết bị trong trường học không có, giáo viên phải kiêm nhiệm, đặc biệt là phụ trách các phòng thí nghiệm và tiếp xúc với hóa chất độc hại thì họ có được hưởng chế độ độc hại không và mức hưởng như thế nào?

TS. Đỗ Trần Hải: Thông thường thì việc xây dựng thông qua xác định đo kiểm môi trường. Nếu mà trong trường đã có phòng thí nghiệm chuyên dụng, ví dụ như thí nghiệm hóa học, người ta sử dụng hóa chất độc hại thì có lẽ nhà trường nên mời một cơ quan chuyên môn, họ sẽ đến đo đạc xác định có những yếu tố độc hại ở trong môi trường đó thì khi đó các cán bộ thí nghiệm sẽ được hướng chế độ bồi dưỡng hiện vật khi tiếp xúc với yếu tố độc hại.

Theo điều 23 Nghị định 39/NĐ-CP của Chính phủ quy định thì ngoài công an cấp xã nơi xảy ra tai nạn thì có thêm chính quyền địa phương được phép xác nhận. Vậy xin hỏi theo nội dung của 2 hướng dẫn trên thì chính quyền cấp xã có được xác nhận văn bản giải quyết tai nạn giao thông không?

TS. Đỗ Trần Hải: Theo tôi hiểu, có 3 cơ quan có thể cấp xác nhận có xảy ra tai nạn, tuy nhiên hiện nay tai nạn giao thông được điều tra đánh giá và được xác nhận là TNLĐ thì nó đòi hỏi một quá trình xem xét của nhiều hồ sơ chứ không phải của mỗi văn bản này. Còn văn bản này theo quy định của luật là một trong ba văn bản biên bản của cảnh sát giao thông hoặc của công an xã và của chính quyền xã, quy định được coi là văn bản trong bộ hồ sơ để xem xét trong quá trình đánh giá.

Hiện nay, việc đo MTLĐ không phản ánh đúng thực trạng môi trường như là thời điểm đo không phát sinh các yếu tố vượt chỉ tiêu, chưa có cơ quan giám sát kiểm tra việc đo môi trường kết quả của các đơn vị đo. Vậy tỉnh Quảng Ninh và các cấp công đoàn sẽ có giải pháp gì cho vấn đề này?

TS. Đỗ Trần Hải: Hiện nay, quy định các đơn vị đủ điều kiện để đo kiểm MTLĐ sẽ do Bộ Y tế cấp chứng nhận. Họ công bố trên mạng của Cục quản lý môi trường y tế, danh sách những đơn vị có đủ điều kiện đo môi trường. Tức là số liệu của họ thì họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật rồi. Cho nên, các doanh nghiệp nên ký hợp đồng với những tổ chức được Cục quản lý môi trường y tế công bố trên mạng, cũng giống như bên Bộ Lao động những tổ chức được phép huấn luyện ATVSLĐ được công bố trên mạng. Với câu hỏi này của bạn đọc, tôi cho rằng cứ thực hiện theo đúng quy định như vậy thì mình không phải nghi ngờ các số liệu cả. Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp người ta đối phó bằng cách khi có đoàn xuống đo đạc thì họ giảm công suất sản xuất, hoặc họ tắt bớt nguồn cũng giống như người ta xả thải trộm thì khi có đoàn thanh tra thì người ta tắt để không thải ra, trong môi trường sản xuất cũng xảy ra tình trạng như vậy và thực ra cũng khó kiểm soát. Trừ trường hợp, có những thanh tra đột xuất thì người ta sẽ không kịp đối phó. Tôi xin chia sẻ thêm quản lý của các nước khác, ví dụ như ở Nhật Bản hay Canada, việc quan trắc môi trường này họ để cho doanh nghiệp tự làm, tự báo cáo, không có chuyện gì hết nếu doanh nghiệp đủ điều kiện. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp bị thanh tra mà không đúng số liệu thì họ có chế tài xử phạt rất mạnh hoặc sẽ tiến hành thanh tra ngay lập tức nếu có đơn kiện. Có lẽ như vậy sẽ nâng cao ý thức của chủ doanh nghiệp lên, quan trọng nhất vẫn là ý thức của NSDLĐ, tức là NSDLĐ thực thi thật tốt, đảm bảo được việc kiểm tra giám sát chất lượng môi trường thật tốt thì tôi cho rằng nó không có vấn đề gì. Chứ còn nếu NSDLĐ mà đối phó thì thực ra có nhiều cách lắm, công đoàn thực sự cũng bó tay bởi vì công đoàn gắn với quyền lợi lao động nhưng tự nhiên đi thưa chủ doanh nghiệp của mình chắc cũng không dám thưa.

Tổng LĐLĐVN sẽ có những giải pháp khoa học công nghệ mới nào về an toàn được áp dụng trong thời gian tới để có thể mang lại hiệu quả thiết thực cho NLĐ?

TS. Đỗ Trần Hải: Viện Khoa học An toàn Vệ sinh lao động là một tổ chức khoa học công nghệ do Chính phủ thành lập giao cho Tổng Liên đoàn quản lý. Hiện nay, Viện chúng tôi thực chất sau khi có Luật ATVSLĐ có hiệu lực từ tháng 1/7/2016 thì tới 29/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định đổi tên Viện, trước Viện có tên là Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động, bây giờ theo Luật ATVSLĐ cũng đổi tên Viện thành Viện Khoa học An toàn Vệ sinh Lao động. Hiện nay, chúng tôi cũng tập chung vào việc xây dựng những chương trình, chính sách các kế hoạch để triển khai hỗ trợ các giải pháp khoa học công nghệ thực hiện các luật. Trong đó, tập trung vào các giải pháp nghiên cứu, phát hiện và đề xuất với nhà nước để bổ sung thêm vào danh mục 34 bệnh nghề nghiệp được công nhận và bảo hiểm. Bởi vì, hiện nay chúng ta trong quá trình hội nhập quốc tế, trong quá trình phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa thì chúng ta du nhập rất nhiều công nghệ, kèm theo đó là đưa vào các loại hóa chất độc hại mới thì những bệnh nghề nghiệp của chúng ta cũng song hành xuất hiện. Hiện nay chúng ta mới có 34 bệnh, trong khi Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo là 106 bệnh được coi là trong danh mục bệnh nghề nghiệp.

Mảng thứ hai mà chúng tôi hiện nay đang tập trung vào là chúng tôi sẽ cùng với bên Bộ Lao động xây dựng hoàn thiện các hệ thống, cơ chế chính sách, quy định pháp luật về ATVSLĐ.

Mảng thứ ba chúng tôi cũng đang tập trung vào giải quyết đó là cùng các bộ ngành xây dựng các hệ thống tiêu chuẩn về ATVSLĐ. Hiện nay, hệ thống tiêu chuẩn ATVSLĐ của chúng ta ban hành từ những năm 70 của thế kỷ trước là rất cũ, đã không phù hợp với tình hình mới, tình hình sản xuất công nghệ hiện nay. Cho nên, để quản lý tốt công tác ATVSLĐ buộc chúng ta phải có bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn thật tốt. Hiện nay, Bộ Lao động cũng đang dần dần chuyển đổi các ban hành quy chuẩn tuy nhiên còn thiếu rất nhiều và tiêu chuẩn của chúng ta thì rất cũ, cần phải soát xét, ban hành bổ sung.

Một trong những hướng chúng tôi tập trung rất nhiều đó là chúng tôi sẽ xây dựng biên soạn các tài liệu hướng dẫn các loại hình sản xuất khác nhau để có thể đánh giá rủi ro, nhận diện nguy cơ và đánh giá nguy cơ rủi ro ATVSLĐ nhằm giúp các doanh nghiệp có thể xây dựng được những kế hoạch, chính sách để phòng ngừa rủi ro qua đó phòng ngừa TNLĐ và BNN.

Và một số giải pháp nữa là chúng tôi tập trung vào nghiên cứu các giải pháp công nghệ liên quan đến việc khống chế cũng như việc xử lý ô nhiễm bụi, hơi khí độc, thậm chí chúng tôi có thể nghiên cứu các tay máy robot có thể phun cát tự động v.v… nhằm giảm thiểu nguy cơ tiếp xúc của NLĐ trong các quá trình sản xuất với yếu tố độc hại.

(Nguồn tin: Vnniosh.vn)