Ủy ban về các vấn đề xã hội: Công tác đảm bảo an toàn lao động và khám, phát hiện bệnh nghề nghiệp vẫn còn những tồn tại, hạn chế

31/07/2019
Báo cáo tới các đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV về kết quả giám sát chuyên đề “Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2016 – 2018”, Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho biết, công tác đảm bảo an toàn lao động và khám, phát hiện bệnh nghề nghiệp vẫn còn những tồn tại, hạn chế.


Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Nguyễn Thúy Anh báo cáo một số nội dung

Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho biết, thực hiện Chương trình hoạt động giám sát năm 2019 và Nghị quyết số 1737/NQ-UBVĐXH14 ngày 10/10/2018 của Ủy ban về các vấn đề Xã hội về thành lập Đoàn Giám sát chuyên đề về “Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2016-2018”, Đoàn đã tổ chức giám sát thực tế tại 07 địa phương , làm việc, nghe báo cáo của 12 bộ, ngành , nghiên cứu, tổng hợp kết quả giám sát, khảo sát của một số Đoàn đại biểu Quốc hội có thành viên Ủy ban là đại biểu chuyên trách, tham vấn ý kiến một số tổ chức hoạt động quan trắc môi trường lao động, tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) và tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, tham dự Hội nghị đối thoại với người lao động và doanh nghiệp của Hội đồng quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động năm 2019 . Tại Kỳ họp thứ 7, Ủy ban Về các vấn đề xã hội báo cáo Quốc hội kết quả giám sát chuyên đề với một số nội dung:

Về tình hình tai nạn lao động (TNLĐ), Ủy ban Về các vấn đề xã hội nêu rõ, theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, giai đoạn 2016 - 2018, trên cả nước xảy ra trên 24.000 vụ TNLĐ. Tuy nhiên, số liệu thống kê này chưa phản ánh đầy đủ, toàn diện tình hình TNLĐ trên cả nước do chỉ có khoảng 5 - 7% doanh nghiệp tuân thủ quy định báo cáo TNLĐ, chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất công nghiệp quy mô lớn, việc chấp hành chế độ báo cáo, thống kê TNLĐ của doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như khu vực không có quan hệ lao động rất yếu; doanh nghiệp dịch vụ, cơ quan hành chính hầu như không báo cáo. Bên cạnh đó, còn tình trạng khi xảy ra TNLĐ, người sử dụng lao động che giấu, không khai báo mà thỏa thuận bồi thường với người lao động hoặc thân nhân người lao động bị chết.


Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phát biểu tại Kỳ họp thứ 7

Về tình hình bệnh nghề nghiệp (BNN), Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho biết, theo báo cáo của Bộ Y tế, giai đoạn 2016 - 2018 có khoảng 30 tỉnh, thành phố thực hiện công tác khám phát hiện và báo cáo đối với 31/34 BNN; một số tỉnh, thành phố chú trọng làm tốt công tác này, trong khi nhiều địa phương chưa quan tâm hoặc chưa có cơ sở y tế hoặc phòng khám chuyên ngành để tổ chức triển khai thực hiện chính sách khám phát hiện và điều trị BNN. Giai đoạn 2016 - 2018, mặc dù số người mắc mới BNN tăng ít qua các năm nhưng số người mắc BNN vẫn ở mức cao. Số mắc BNN cộng dồn đến năm 2018 là trên 29.000 trường hợp. Kết quả khám phát hiện BNN cho thấy 03 loại BNN có số mắc bệnh cao nhất là bệnh bụi phổi silic, bệnh điếc nghề nghiệp và bệnh da nghề nghiệp. So sánh với giai đoạn trước cho thấy một số BNN có tỷ lệ mắc giảm nhanh; tuy nhiên, cũng có một số nhóm bệnh có chiều hướng tăng rất nhanh (bệnh điếc do tiếng ồn tăng 38% và bệnh viêm gan virut nghề nghiệp tăng 98%).

Về lĩnh vực, khai khoáng, vật liệu xây dựng, cơ khí, sản xuất và sử dụng hóa chất là các ngành nghề có tỷ lệ mắc BNN cao nhất. Công tác khám, theo dõi diễn biến BNN ngày càng khó khăn, thách thức do các yếu tố có hại (như hóa chất, dung môi, vi khuẩn, virut…) trong môi trường ngày càng phức tạp; bên cạnh đó, ngày càng có nhiều các yếu tố tâm sinh lý lao động ecgonomy trong các ngành lao động nặng nhọc, độc hại, các ngành nghề lao động mới hình thành (điện tử, lắp ráp, công nghiệp chế biến…) ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động và phát sinh nguy cơ gây BNN.

Trên cơ sở kết quả giám sát, Ủy ban Về các vấn đề xã hội chỉ ra một số tồn tại, hạn chế về vấn đề này, theo đó: Số người lao động được khám, phát hiện BNN chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với số lao động, do nhiều nguyên nhân: nhiều doanh nghiệp, người sử dụng lao động chưa quan tâm đến việc thực hiện trách nhiệm tổ chức khám phát hiện BNN cho người lao động làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây BNN để giảm thiểu chi phí; người lao động có tâm lý “ngại” đi khám BNN, không dám yêu cầu, đề xuất việc khám phát hiện BNN; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm tổ chức khám phát hiện BNN còn hạn chế, chưa có tính răn đe, phòng ngừa chung.

Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước đối với việc theo dõi, phát hiện BNN chưa được quan tâm ở nhiều địa phương. Giai đoạn 2016 - 2018 trên cả nước chỉ có khoảng 30 tỉnh, thành phố thực hiện và báo cáo tình hình khám phát hiện đối với 31/34 BNN. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do nhiều địa phương chưa có cơ sở y tế chuyên ngành để khám phát hiện BNN; nhiều cơ sở khám BNN ít được đầu tư nguồn lực, thiếu bác sỹ có đủ trình độ chuyên môn, thiếu trang thiết bị, máy móc chuyên dụng để khám phát hiện và điều trị BNN. Các trường hợp mắc bệnh nghề nghiệp và bị TNLĐ được điều dưỡng phục hồi chức năng trên toàn quốc đạt chưa đến 1%.

Ngoài ra, tại nhiều địa phương, năng lực của ngành y tế mới chỉ thực hiện được việc khám phát hiện đối với một số BNN như bệnh phổi phế quản nghề nghiệp, bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn. Việc khám và chẩn đoán các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp, BNN do yếu tố vật lý hoặc do yếu tố vi sinh còn rất hạn chế do năng lực chuyên môn của bác sỹ cũng như thiếu sự hợp tác từ người sử dụng lao động.

Ủy ban Về các vấn đề xã hội nêu rõ, ATVSLĐ là một chính sách an sinh xã hội quan trọng, bao gồm cả phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, trong đó quan trọng hơn cả là công tác phòng ngừa, đo đó đề nghị Quốc hội tăng cường công tác giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện chế độ, chính sách pháp luật về ATVSLĐ; Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương đẩy mạnh triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ các hoạt động phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về TNLĐ, BNN để đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp và người lao động trong điều kiện nguồn quỹ đang kết dư lớn./.

Hồ Hương


(Nguồn tin: http://quochoi.vn)