Ủy ban về các vấn đề xã hội: Một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh chưa thực hiện nghiêm các chính sách phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

31/07/2019
Vẫn còn những doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm chính sách phòng ngừa tại nạn lao động là một trong những nội dung của kết quả giám sát chuyên đề “Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2016 – 2018” được Ủy ban Về các vấn đề xã hội báo cáo đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 7 vừa qua.


Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội báo cáo một số nội dung tại Kỳ họp thứ 7

Liên quan đến việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ), Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho biết, Chính phủ và các bộ, ngành đã tiến hành thực hiện các nhóm chính sách phòng ngừa tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ, BNN), cụ thể:

Về huấn luyện ATVSLĐ, giai đoạn 2016 - 2018, hằng năm có khoảng 1,2 triệu đến 2,1 triệu lượt người được các tổ chức huấn luyện ATVSLĐ huấn luyện, tăng hơn so với giai đoạn 2013-2015 . Hoạt động huấn luyện ATVSLĐ ngày càng đi vào nền nếp và phát huy hiệu quả; thu hút được nguồn lực xã hội cùng tham gia; cơ bản bảo đảm về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên theo quy định, đáp ứng yêu cầu huấn luyện ATVSLĐ. Đến nay, có hơn 400 tổ chức hoạt động dịch vụ huấn luyện về ATVSLĐ và khoảng 10.000 người tham gia công tác huấn luyện ATVSLĐ. Chỉ tính riêng năm 2018 các doanh nghiệp, tổ chức đã tự tổ chức huấn luyện cho khoảng 5 triệu lượt người.

Về thực hiện các quy định về nội quy ATVSLĐ, nhìn chung, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh đều có xây dựng nội quy, quy trình công nghệ, quy trình vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng đối với các máy, thiết bị và huấn luyện ATVSLĐ cho người lao động… nhất là đối với các doanh nghiệp lớn, hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp .

Việc quản lý máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ, hầu hết các thiết bị đều được kiểm định trước khi sử dụng, trong 03 năm (2016 - 2018) đã thực hiện kiểm định cho hơn 8 triệu lượt máy, thiết bị, trong đó có 5 triệu lượt thiết bị được kiểm định lại đạt yêu cầu trước khi sử dụng. Việc xã hội hóa hoạt động kiểm định cũng đạt kết quả tốt góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ. Tính từ khi Luật ATVSLĐ được ban hành đến nay đã có thêm 31 tổ chức mới được cấp giấy chứng nhận, nâng tổng số tổ chức đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động kiểm định lên 109 tổ chức; về cơ bản các kiểm định viên đều đáp ứng và đảm bảo yêu cầu theo quy định.

Đối với công tác chăm sóc sức khỏe người lao động và quản lý môi trường lao động, việc kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc được quan tâm, thực hiện. Số người lao động được khám sức khỏe định kỳ ngày càng tăng. Môi trường lao động trong thời gian qua có bước cải thiện đáng kể trong các cơ sở sản xuất kinh doanh. Đến nay, đã quản lý, theo dõi được 32.029 cơ sở lao động có yếu tố nguy hiểm có hại, với tổng số lao động được quản lý là hơn 5 triệu người, trong đó có 59% số lao động tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; số cơ sở được quan trắc môi trường lao động gần 6.000 cơ sở hằng năm; số cơ sở đã lập hồ sơ vệ sinh lao động, chiếm 20% tổng số cơ sở. Nhiều Tập đoàn, Tổng công ty lớn đã xây dựng và triển khai hệ thống quản lý an toàn sức khỏe môi trường tiên tiến, hiện đại, do vậy tình hình tai nạn, sự cố mất an toàn, cháy nổ tại các cơ sở này được kiểm soát, kiềm chế, đảm bảo an toàn sản xuất. Việc thực hiện chính sách xã hội hóa đã tạo chuyển biến tích cực đối với hoạt động quan trắc môi trường lao động, số lượng đơn vị được công bố đủ điều kiện quan trắc môi trường lao động gia tăng nhanh, năm 2016 chỉ có 5 đơn vị, năm 2017 đã có thêm 86 đơn vị, năm 2018 có thêm 52 đơn vị. Tính đến hết tháng 02/2019 đã có 147 đơn vị đủ điều kiện quan trắc môi trường lao động. Việc chấp hành quy định về chế độ bảo hộ lao động, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động… được các đơn vị, doanh nghiệp quan tâm, chú trọng; trách nhiệm của người sử dụng lao động được nâng lên, nhất là tại các đơn vị có nguy cơ cao về ATVSLĐ. Công tác phòng chống cháy, nổ được quan tâm, thực hiện nghiêm túc, việc xây dựng kế hoạch ứng cứu sự cố, tìm kiếm cứu nạn, tổ chức diễn tập phương án, biện pháp khẩn cấp khi xảy ra sự cố, tai nạn được thực hiện bài bản và thông báo, triển khai tới người lao động.


Bộ trưởng Đào Ngọc Dung làm rõ một số vấn đề đại biểu quan tâm

Tuy nhiên, theo kết quả giám sát, Ủy ban Về các vấn đề xã hội đánh giá, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong vấn đề này, cụ thể: hoạt động huấn luyện ATVSLĐ chưa đạt được kết quả như mong muốn; một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã tổ chức huấn luyện ATVSLĐ nhưng nội dung huấn luyện bị rút gọn hoặc rút ngắn thời gian, có nơi hoạt động huấn luyện không gắn với công việc của người lao động; chất lượng đội ngũ giảng viên, chương trình huấn luyện, nội dung giáo trình chưa đáp ứng yêu cầu và phù hợp với từng ngành nghề, công việc; chất lượng huấn luyện ATVSLĐ ở một số doanh nghiệp còn thấp, vẫn còn hiện tượng cấp giấy chứng nhận, thẻ an toàn lao động chưa đúng quy định, mang tính đối phó. Do quy định chặt chẽ về tài chính trong Nghị định 37/2016/NĐ-CP nên giai đoạn 2016-2018 số lao động tại các doanh nghiệp được hỗ trợ kinh phí huấn luyện ATVSLĐ từ Quỹ bảo hiểm TNLĐ-BNN đạt thấp.

Bên cạnh đó, việc chấp hành các quy định pháp luật về ATVSLĐ của một số doanh nghiệp và người lao động, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa tốt, chưa nghiêm túc thực hiện các quy định về trang bị và sử dụng bảo hộ lao động, khám sức khoẻ định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; tỷ lệ doanh nghiệp tiến hành đo kiểm tra môi trường lao động thấp; nhiều doanh nghiệp chỉ quan tâm thực sự đến vấn đề ATLĐ khi phải xử lý sự cố, ít quan tâm tới việc thực hiện áp dụng các giải pháp đổi mới kỹ thuật, công nghệ để nâng cao hiệu quả phòng, ngừa TNLĐ, BNN.  Số cơ sở lập hồ sơ vệ sinh lao động chiếm tỷ lệ thấp (20% tổng số cơ sở). Điều kiện lao động của người lao động, nhất là lao động nữ trong một số ngành nghề có nguy cơ cao về vệ sinh lao động (da giầy, dệt may, chế biến thủy sản và lắp ráp điện tử) còn nhiều yếu tố nguy cơ như: phải làm việc trong điều kiện có nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp như tiếng ồn; nhiệt độ nóng, lạnh và độ ẩm cao; hóa chất có nồng độ cao.

Chưa kể đến, môi trường lao động tại khu vực các làng nghề đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng;  Còn 02 tỉnh chưa công bố đơn vị đủ điều kiện quan trắc môi trường lao động, khó khăn cho doanh nghiệp tiếp cận và ban hành quy định về quan trắc môi trường lao động; năng lực và điều kiện hoạt động của nhiều đơn vị quan trắc môi trường lao động chưa bảo đảm; xuất hiện tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quan trắc môi trường lao động; nhiều doanh nghiệp không thực hiện quan trắc môi trường lao động dẫn đến tình trạng người lao động mắc BNN không được hưởng chế độ BNN từ Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN vì không đủ điều kiện hưởng ; giám sát thực tế tại doanh nghiệp cho thấy có tình trạng số lượng mẫu quan trắc môi trường không đủ tiêu chuẩn rất lớn, nhưng chưa có biện pháp xử lý.

Trên cơ sở kết quả giám sát, Ủy ban Về các vấn đề xã hội đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành cần quan tâm toàn diện việc thực hiện các chính sách về ATLĐ và VSLĐ, cả khu vực có quan hệ lao động và không có quan hệ lao động; tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động dịch vụ huấn luyện ATVSLĐ, kiểm định ATVSLĐ, quan trắc môi trường lao động; khẩn trương khắc phục tình trạng chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về thực hiện các biện pháp bảo đảm vệ sinh lao động, phòng chống BNN cho người lao động làm việc không theo hợp đồng./.

Hồ Hương

(Nguồn tin: quochoi.vn)