Ủy ban về các vấn đề xã hội: Công tác quản lý Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, Ngành

31/07/2019
Báo cáo tới các đại biểu Quốc hội về kết quả giám sát chuyên đề “Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2016 – 2018” tại Kỳ họp thứ 7 vừa qua, Ủy ban Về các vấn đề xã hội cho biết, công tác quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành.


Toàn cảnh buổi làm việc

Theo Ủy ban Về các vấn đề xã hội, công tác quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) ngày càng đi vào nền nếp, có chiều sâu, trên cơ sở sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của ngành lao động - thương binh và xã hội với các bộ, ngành, tổ chức ở Trung ương cũng như giữa các sở, ban, ngành, tổ chức ở địa phương. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quan tâm theo dõi sát sao tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ, BNN) cũng như việc tổ chức thực hiện các chính sách về ATVSLĐ, kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc triển khai công tác ATVSLĐ ở các cấp chính quyền địa phương. Công tác thông tin, tuyên truyền về ATVSLĐ có nhiều chuyển biến tích cực, thu hút và phát huy được sự tham gia rộng rãi của các cơ quan truyền thông góp phần quan trọng phòng ngừa, kéo giảm TNLĐ, BNN trong khu vực có quan hệ lao động, góp phần củng cố, phát triển văn hóa an toàn lao động. Một số chính sách mới về quản lý và thực hiện ATVSLĐ đối với người làm việc không theo hợp đồng lao động bước đầu được quan tâm triển khai thông qua công tác khai báo, điều tra, báo cáo, đánh giá, công bố TNLĐ đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động đến Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã.

Bên cạnh đó, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về cải cách thủ tục hành chính, các Bộ đã tham mưu để Chính phủ cắt giảm hơn 64% thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh dịch vụ huấn luyện và kiểm định kỹ thuật về ATVSLĐ; điều chỉnh giảm mức đóng vào Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN từ 1% xuống còn 0,5 % đối với người sử dụng lao động; việc thực hiện xã hội hóa dịch vụ huấn luyện ATVSLĐ bước đầu phát huy hiệu quả tích cực. Bộ máy tổ chức và cán bộ làm công tác ATVSLĐ đã từng bước được củng cố tại các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp. Vai trò của Hội đồng quốc gia về ATVSLĐ và Hội đồng ATVSLĐ cấp tỉnh  được phát huy tích cực bằng hoạt động thực chất , qua đó củng cố, phát huy ngày càng có hiệu quả cơ chế phối hợp liên ngành.


Bộ Trưởng Bộ Y tế làm rõ một số nội dung

Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra về ATVSLĐ được tăng cường từ cấp Trung ương đến các cấp chính quyền địa phương, có sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương, hạn chế trùng lắp, bỏ trống trong thanh tra, kiểm tra về ATVSLĐ; tổ chức điều tra, kết luận, xử lý kịp thời, nghiêm túc nhất là các vụ TNLĐ chết người, qua đó xác định nguyên nhân, trách nhiệm của những người có liên quan và kiến nghị thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động tái diễn.

Tuy nhiên, bênh cạnh những kết quả đạt được, Ủy ban Về các vấn đề xã hội cũng đánh giá một số tồn tại, hạn chế, cụ thể: Việc chấp hành quy định của Luật ATVSLĐ về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác ATVSLĐ còn hạn chế, chưa được thực hiện nghiêm túc ở nhiều địa phương. Công tác thống kê, báo cáo vẫn là khâu yếu nhất trong thực hiện chính sách, pháp luật về ATVSLĐ mà nguyên nhân xuất phát từ chỗ còn nhiều cơ quan quản lý nhà nước, nhất là cấp xã và các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo luật định; việc ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng và tính tuân thủ trong chấp hành chế độ báo cáo, thống kê còn hạn chế.


Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội giải trình vấn đề đại biểu quan tâm

Ủy ban Về các vấn đề xã hội cũng chỉ rõ, sở dĩ còn những tồn tại hạn chế trên là do các nguyên nhân khách quan và chủ quan sau:

 Nguyên nhân khách quan: Luật ATVSLĐ đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng bao gồm cả người lao động làm việc không theo hợp đồng, cùng với xu thế phát triển mạnh các ngành công nghiệp như thi công xây dựng, khai khoáng, năng lượng, hóa chất và sự gia tăng sử dụng điện trong công nghiệp… làm tăng nguy cơ mất ATVSLĐ, ô nhiễm môi trường do đó số liệu thống kê về tình hình hình TNLĐ của giai đoạn 2016-2018 tăng rõ rệt so với các năm trước đây; Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam còn chiếm tỷ lệ cao (trên 90%), nguồn lực đầu tư cho công tác ATVSLĐ còn hạn chế, thiếu trang thiết bị ứng cứu sự cố chất lượng kém hoặc chỉ trang bị để đối phó, hình thức; Tỷ lệ người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức còn chiếm tới 60% lực lượng lao động, tính chất công việc không ổn định, dễ thay đổi, phần lớn chưa được phổ biến, huấn luyện kiến thức cơ bản về ATVSLĐ nên khó phòng ngừa rủi ro TNLĐ, BNN.

Nguyên nhân chủ quan từ phía người sử dụng lao động: Một bộ phận không nhỏ người sử dụng lao động chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của doanh nghiệp và tầm quan trọng của công tác ATVSLĐ là yếu tố quan trọng để duy trì bền vững thành quả phát triển và hội nhập nên không quan tâm đầu tư cho việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa TNLĐ, BNN; không tổ chức huấn luyện ATVSLĐ hoặc huấn luyện ATVSLĐ cho người lao động không đầy đủ, mang tính đối phó; không tổ chức đánh giá, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và nguy cơ rủi ro gây TNLĐ; không xây dựng nội quy, quy trình an toàn lao động, không trang bị, hoặc trang bị không đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động; không chủ động thực hiện khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí công việc, không thực hiện khám phát hiện BNN cho người lao động. Đối với người lao động: Việc xây dựng tác phong công nghiệp gắn với văn hóa ATLĐ trong người lao động còn hạn chế; nhiều người lao động chưa nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ trong ATVSLĐ, không chấp hành đầy đủ quy trình, nội quy lao động, quy định an toàn, sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân.

Trên cơ sở kết quả giám sát, Ủy ban Về các vấn đề xã hội đề nghị cần phải có sự tham gia, vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ Trung ương, đến địa phương, trong đó đặc biệt phát huy vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp; cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các bộ, ngành hữu quan để đánh giá tổng thể về sự tương thích, thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các nội dung được Bộ quy định, hướng dẫn trong các Thông tư để sớm có kế hoạch hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc thay thế các nội dung không còn phù hợp, mâu thuẫn, chồng chéo gây khó khăn, vướng mắc cho quá trình triển khai thực hiện./.

Hồ Hương

(Nguồn tin: quochoi.vn)