Đề xuất khung danh mục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh lao động cho giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế

07/06/2019

I. MỞ ĐẦU

Trong xu thế công nghiệp hóa mạnh mẽ hiện nay, việc xây dựng tiêu chuẩn, qui chuẩn ATVSLĐ phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, hoàn thiện khung pháp chế và tăng cường quản lý sự nghiệp ATVSLĐ trong sản xuất là một trong những vấn đề cốt lõi trong chính sách của Nhà Nước.

Từ 2006, sau khi Luật Tiêu chuẩn, Qui chuẩn (Luật TC,QC) ra đời, hệ thống tiêu chuẩn, qui chuẩn (TC,QC) Việt Nam đang dần được triển khai theo đúng các mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nội dung các quy chuẩn kỹ thuật được soạn thảo, ban hành và áp dụng không tạo ra những trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế. Các văn bản TC,QC kỹ thuật và các hướng dẫn có liên quan của các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế được sử dụng như là căn cứ để xây dựng hoặc chấp nhận thành tiêu chuẩn của các quốc gia thành viên tùy thuộc vào yêu cầu bảo vệ sức khoẻ an toàn cho con người, môi trường; điều kiện tự nhiên, trình độ khoa học công nghệ hoặc về cơ sở hạ tầng. Nâng dần mức độ hài hoà của hệ thống tiêu chuẩn quốc gia với hệ thống tiêu chuẩn quốc tế trên cơ sở đảm bảo các lợi ích chung của nền kinh tế- xã hội và nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO.

Mặc dù vậy công tác xây dựng TC,QC ở Việt Nam hiện nay vẫn còn một số bất cập.  Nội dung và phương thức xây dựng TC, QC chậm đổi mới, chưa theo kịp với yêu cầu thực tế; một số nội dung chưa thể áp dụng trong điều kiện kinh tế- kỹ thuật hiện tại. Nội dung giữa các văn bản còn có sự chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu sự đồng bộ, thống nhất; chưa đạt được sự đồng thuận giữa các bên có liên quan.

Mức độ hài hòa của hệ thống tiêu chuẩn quốc gia với hệ thống tiêu chuẩn quốc tế còn thấp, trong khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ năm 2006 và hiện là thành viên Hiệp định thương mại CPTPP. Điều này làm cản trở những khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường và giảm khả năng tiếp cận với các dự án đầu tư của nước ngoài và gây khó khăn cho các doanh nghiệp (DN) FDI.

Vì thế việc rà soát lại các TC, QC KT đang sử dụng, loại bỏ những TC,QC, KT không còn phù hợp và xây dựng hệ thống TC,QC KT quốc gia về ATVSLĐ phù hợp với giai đoạn phát triển mới là rất cần thiết và có ý nghĩ thực tiễn.

Trên cơ sở đó, Tổng liên đoàn lao động Việt nam phê duyệt cho Viện khoa học An toàn vệ sinh lao động thực hiện đề tài:”Đánh giá tình hình áp dụng và đề xuất khung danh mục tiêu chuẩn, qui chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh lao động cho giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế”trong 2 năm 2017-2018.

Nhiệm vụ của đề tài là rà soát, phân tích đánh giá các TCQCKT hiện có, sắp xếp lại theo hệ thống và đề xuất bổ sung vào danh mục những TCQCKT cần có cho phù hợp với yêu cầu mới. Hệ thống danh mục các TCQC KT QG phải kế thừa các kết quả nghiên cứu, tham khảo hệ thống tiêu chuẩn các nước phát triển.

II. TÌNH HÌNH ÁP DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN, QUY CHUẨN AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM

Các TC kỹ thuật (KT) ATVSLĐ Việt Nam bắt đầu được xây dựng và phát triển từ những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước, chủ yếu là trên cơ sở chuyển dịch các tiêu chuẩn quốc gia Liên bang Xô Viết (GOST) còn các QC KT ATVSLĐ được chuyển hóa từ các TC ATVSLĐ sau khi Luật TC,QC được ban hành (2006).

Thời gian đầu, khi nước ta còn trong nền kinh tế tập trung bao cấp việc áp dụng các TC ATVSLĐ còn mang nặng tính hình thức, như là chỉ chuyển tải lại các nội dung cơ bản của TCKT ATVSLĐ sang các bản qui định an toàn vận hành máy, an toàn khi sử dụng thiết bị,…trang bị các phương tiện bảo vệ cá nhân mà chưa có huấn luyện, thanh, kiểm tra việc áp dụng. Còn các tiêu chuẩn vệ sinh thì hầu như không được áp dụng triệt để.

Thời gian sau này, hầu hết tại Việt Nam các công tycó áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ đềulà các công ty nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài, đặc biệt là với Nhật Bản. Hiện có rất nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, có thể kể đến một số tập đoàn lớn như Honda, Toyota, Panasonic, Canon, Yamaha… do công ty mẹ của các tổ chức này đều đã áp dụng OHSAS 18.000 và họ yêu cầu các công ty con tại các quốc gia đều phải xây dựng và áp dụng OHSAS 18.000. Bởi vậy, các doanh nghiệp này cũng đã góp phần rất lớn trong việc áp dụng OHSAS 18.000 tại Việt Nam.

Hệ thống quản lý ATVSLĐ,  đi cùng với nó là các TCQC ATVSLĐ, là một trong những điều kiện đang được xem là yêu cầu bắt buộc của các doanh nghiệp  trong xu thế hội nhập. Các DN Việt Nam cũng đã bắt đầu xem xét áp dụng các TCQC ATVSLĐ và đạt được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, hiện nay số lượng các DN áp dụng thành công hệ thống quản lý ATVSLĐ (OHSAS 18001:2007) vẫn còn hạn chế cũng như hiệu quả khi áp dụng chưa được như mong muốn của DN, bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng một số DN sau khi đạt được chứng nhận về Hệ thống quản lý OHSAS 18001:2007 thì không thể vận hành tiếp hệ thống.

Hiện nay, theo thống kê của đề tài, nước ta có 986 TC,QC KT ATVSLĐ (xem Hình 1), tùy theo đặc tính công nghệ sản xuất mà mỗi một DN áp dụng mỗi nhóm TC,QC KT ATVSLĐ khác nhau.


Hình 1. Số lượng các TC,QC KT ATVSLĐ sau 10 năm Luật TC,QC ra đời

Sau đây là những thuận lợi và khó khăn của các DN Việt Nam khi triển khai áp dụng các TCQCKTATVSLĐ.

2.1. Thuận lợi khi áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ với các TCQC KT ATVSLĐ

Hiện nay, cùng với sự tăng tốc của các luồng thông tin, sự cạnh tranh giữa các DN ngày càng tăng, kèm theo đó là yêu cầu của người tiêu dùng đối với DN cũng có những thay đổi đáng kể, nhu cầu này không chỉ là về giá cả và chất lượng mà còn tập trung vào các nguyên tắc đạo đức liên quan đến môi trường, NLĐ và cộng đồng, chính vì vậy DN không thể bỏ qua vấn đề ATVSLĐ. Đây vừa là áp lực nhưng đồng thời cũng là thuận lợi cho DN, vì việc DN áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ sẽ giúp DN nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như mở rộng thị trường, tăng cơ hội giao thương, làm ăn với nước ngoài.

Trong tình hình hiện nay, khi các DN thường phải đối mặt với những chi phí ngày càng cao cho những việc như trả lương cho thời gian nghỉ ốm, đào tạo thay thế khi NLĐ bị TNLĐ hoặc BNN, giảm năng suất của những NLĐ bị TNLĐ khi họ quay lại làm việc, chi phí cho NLĐ bị ốm đau, bị thương tật. Bên cạnh đó, sau khi Luật ATVSLĐ  ra đời, quy định của luật pháp về ATVSLĐ ngày càng chặt chẽ, chi phí bảo hiểm cho NLĐ ngày càng cao… thì việc áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ OHSAS 18001 cùng với các TCQC KT ATVSLĐ  như một giải pháp cho các DN đang phải đối mặt với các tình trạng trên. Phương thức quản lý ATVSLĐ truyền thống thường quan tâm tới việc đối phó với những tai nạn, sự cố liên quan tới công việc chứ không quan tâm tới việc lập kế hoạch để kiểm soát những công việc đó, trong khi hệ thống quản lý ATVSLĐ cùng với việc triển khai áp dụng các TCQC ATVSLĐ tập trung vào việc lập kế hoạch phòng ngừa đối với những rủi ro có thể xảy ra.

Nhiều DN tiên phong trong việc xây dựng và thực hiện Hệ thống quản lý ATVSLĐ cùng với các TCQC KT ATVSLĐ đã nhận ra những lợi ích to lớn từ hệ thống này như: giảm thời gian mất đi do ngừng sản xuất, giảm tai nạn và chi phí y tế, có được sự công nhận của các Cty bảo hiểm và các cơ quan pháp luật cũng như nâng cao tinh thần làm việc của NLĐ. NLĐ cũng tỏ ra quan tâm hơn tới những tổ chức được chứng nhận và có những cam kết liên tục cải tiến về hệ thống quản lý ATVSLĐ. Ngược lại, nhận thức ngày càng cao của NLĐ và cam kết của từng cá nhân về ATVSLĐ cũng đóng vai trò là cơ sở cho những thay đổi tích cực của DN trong việc ổn định sản xuất, tăng năng suất lao động.

Khi các DN đạt được chứng nhận OHSAS 18001:2007, nó trở thành công cụ đắc lực để DN thuyết phục các đối tác mà không phải mất quá nhiều thời gian chi phí và các thủ tục, hồ sơ để minh chứng.

2.2. Khó khăn khi áp dụng hệ thống các TCQC KT ATVSLĐ

Từ quá trình khảo sát tình hình áp dụng các TCQC ATVSLĐ tại một số DN, cho thấy, mặc dù các TCQC KT ATVSLĐ đem lại nhiều lợi ích cho DN, nhưng việc áp dụng hệ thống này không phải là điều dễ dàng, đặc biệt đối các DN vừa và nhỏ (DNVVN). Một số khó khăn các DN thường gặp phải khi bắt đầu tiếp cận hệ thống cũng như áp dụng và vận hành hệ thống các TCQC ATVSLĐ là:

- Khó khăn do các yêu cầu của kỹ thuật

+ Các TCQC KT ATVSLĐ là những tiêu chuẩn kỹ thuật, khi áp dụng hệ thống TCQC KT ATVSLĐ nghĩa là DN phải đầu tư chi phí để nâng cấp nhà xưởng, huấn luyện nhân viên, đo kiểm môi trường làm việc, đầu tư cải tiến máy móc thiết bị… Đó chính là một trong những trở ngại lớn cho các DN, nhất là đối với các DN vừa và nhỏ, trong quá trình cạnh tranh họ phải tìm cách cắt giảm chi phí để tồn tại và sản xuất, thì việc đầu tư một khoản chi phí lớn cho việc áp dụng các TCQC KT ATVSLĐ là không đơn giản.

+ Các DN trước đây thường không hoặc ít quan tâm tới việc thực hiện ATVSLĐ, nay phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu của công việc cải tiến kỹ thuật, điều này tạo ra một áp lực thay đổi trong toàn bộ tổ chức, và sự thay đổi này cần có sự hỗ trợ của lãnh đạo cũng như thời gian để mọi người trong tổ chức hiểu và thực hiện được các yêu cầu này.

- Khó khăn do nhận thức về công tác ATVSLĐ

+ Nhiều người, kể cả NSDLĐ cũng như NLĐ cho rằng, khi áp dụng hệ thống TCQC KT ATVSLĐ sẽ làm ảnh hưởng đến năng suất do phải sử dụng các trang thiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân cồng kềnh, phải thực hiện đúng các qui trình an toàn, phải đánh giá rủi ro trước khi tiến hành công việc.... Tuy nhiên, thực tế lượng thời gian, chi phí và năng suất bị mất cho các yêu cầu đó không nhiều bằng việc khi có sự cố về an toàn sức khoẻ, thiệt hại về người và tài sản là không tính hết, cũng như thời gian mất đi để khắc phục hậu quả và phục hồi sản xuất, lúc đó DN cũng giảm sản lượng hàng hóa dịch vụ. Ví dụ sự cố cháy nổ, TNLĐ, BNN…

+ Đối với các DNVVN, chất lượng và chi phí là vấn đề mà DN tập trung lo lắng hàng đầu, nên việc áp dụng thêm hệ thống TCQC KT ATVSLĐ là điều mà các DNVVN thường cân nhắc.

+  Một số DN cũng muốn áp dụng hệ thống TCQC KT ATVSLĐ nhưng chỉ để “bằng” với các DN khác hoặc là do yêu cầu của đối tác, bản thân DN chưa nhận thấy được lợi ích mà hệ thống TCQC KT này đem lại cho sự tồn tại và phát triển của DN.

-  Khó khăn trong quá trình áp dụng

+ Hệ thống TCQC KT ATVSLĐ không được áp dụng đồng bộ tại các bộ phận trong DN. Điều này dẫn đến hệ thống quản lý ATVSLĐ không được thực hiện đều khắp các khu vực trong DN, do đó hiệu quả đạt được không cao.

+Lãnh đạo DN chưa nghĩ đến lợi ích lâu dài do áp dụng hệ thống TCQC KT ATVSLĐ mang lại mà chỉ tập trung vào các mục tiêu ngắn hạn. Một số lãnh đạo hoặc đại diện lãnh đạo giao khoán việc vận hành hệ thống TCQC KT ATVSLĐ cho nhóm kỹ thuật, không quan tâm, xem xét thường xuyên việc vận hành hệ thống, dẫn đến việc thực hiện theo một khuôn mẫu, không có sự cải tiến liên tục, nên hiệu quả đạt được cũng không cao.

+ Áp dụng một cách hình thức, phong trào. Việc áp dụng hình thức này có thể ngay từ khi vận hành để đạt chứng nhận hoặc đối phó với các đoàn kiểm tra. Do yêu cầu về thời gian, nên một số DN chỉ vận hành hệ thống TCQC KT ATVSLĐ sao cho trong thời gian ngắn nhất có được chứng nhận OHSAS 18001:2007. Nhưng nếu như sau khi có được chứng nhận, DN tổ chức lại hệ thống theo đúng yêu cầu thì cũng có thể đạt được hiệu quả. Nhưng thực tế, một số DN sau khi có được chứng nhận thì hầu như không thực hiện việc điều chỉnh này mà vẫn hoạt động theo hệ thống cũ.

+ Không có hoặc không đủ nhân lực kiểm soát và duy trì hệ thống.

+ Doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc mã hóa hồ sơ, phân định trách nhiệm quyền hạn hoặc do sự thay đổi lãnh đạo dẫn đến những thay đổi trong việc vận hành hệ thống không được cập nhật.

+  Các lãnh đạo, nhân viên trong DN không nắm được các yêu cầu của hệ thống quản lý ATVSLĐ. Điều này có thể là do quá trình đào tạo không hiệu quả hoặc do kế hoạch đào tạo nội bộ không bao quát hết mọi thành viên trong DN.

III. ĐỀ XUẤT KHUNG DANH MỤC HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN, QUI CHUẨN AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG

Trên cơ sở các phân tích về TCQC KT nói chung, chúng ta có thể định nghĩa hệ thống TCQC ATVSLĐ như sau:

Hệ thống TCQC ATVSLĐ là một tập hợp các TCQC về ATVSLĐ và có liên quan  nhằm  ngăn ngừa các nguy cơ, rủi ro trong sản xuất để phòng tránh  các tổn thương và  ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ với mục tiêu cung cấp một nơi làm việc an toàn và hợp vệ sinh.

Vấn đề đặt ra là phân nhóm hệ thống TCQC KT QG về ATVSLĐ như thế nào là hợp lý và bao quát các vấn đề về ATVSLĐ trong nhóm. Chúng ta biết rằng Hệ thống TCVN, trên cơ sở khung phân loại tiêu chuẩn quốc tế  ICS, được chia thành 38 nhóm chủ đề. Chúng ta có thể nhận thấy, tất cả 38 chủ đề đều chứa đựng công tác ATVSLĐ. Việc nhóm chia các phân nhóm TC ATVSLĐ theo các chủ đề này sẽ bị tản mạn và dễ bị chồng chéo do các cơ quan khác nhau, thuộc các bộ ngành khác nhau sẽ đề xuất xây dựng các tiêu chuẩn ATVSLĐ theo chủ đề phục vụ cho ngành mình.

Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu nước ngoài và qua phân tích các TCQC KT QG về ATVSLĐ, những người thực hiện đề tài đã tiến hành phân nhóm cho các TC và QC KT ATVSLĐ không theo các lĩnh vực sản xuất mà theo nhóm các công tác ATVSLĐ trong các lĩnh vực sản xuất khác nhau.

Do tính chất và tính pháp lý khác nhau theo Luật Tiêu chuẩn, qui chuẩn 2006, chúng tôi chia hệ thống TCQC ATVSLĐ ra làm 2 hệ thống: Hệ thống Tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia và hệ thống Qui chuẩn kỹ thuật quốc gia.

3.1. Hệ thống Tiêu chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ QG

Từ Luật Tiêu chuẩn, qui chuẩn 2006, chúng ta có thể viết khái niệm về TC, QC ATVSLĐ như sau; “Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn, vệ sinh và sức khỏe  lao động theo qui định của Luật An toàn vệ sinh lao động”.

Dưới hệ thống Tiêu chuẩn kỹ thuật QG là 2 phân hệ: Phân hệ TC ATLĐ và phân hệ TC VSLĐ và dưới các phân hệ là các nhóm (phân nhánh), dưới các nhóm là tập hợp các tiêu chuẩn thành phần. Các nhóm của phân hệ như sau:


Các tiêu chuẩn trong các nhóm bao gồm:

1. Các tiêu chuẩn thuộc nhóm 1 quy định cụ thể: 

- Cơ sở tổ chức và phương pháp luận để chuẩn hóa trong lĩnh vực quản lý an toàn vệ sinh lao động (mục đích, mục tiêu và cấu trúc của hệ thống quản lý, qui định thực hiện và giám sát tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ, thuật ngữ trong lĩnh vực ATVSLĐ, phân loại các yếu tố sản xuất nguy hiểm và có hại...);

- Các yêu cầu (quy định) để tổ chức công việc nhằm đảm bảo ATVSLĐ (huấn luyện ATVSLĐ, kiểm định ATVSLĐ, phương pháp đánh giá ATVSLĐ ...).

2. Các tiêu chuẩn thuộc nhóm 2 bao gồm:

- Yêu cầu an toàn chung đối với quy trình sản xuất; 

- Yêu cầu về an toàn đối với các nhóm (quy trình) cụ thể của quy trình công nghệ; 

- Các biện pháp giám sát sự tuân thủ các yêu cầu về ATVSLĐ;

3. Các tiêu chuẩn thuộc nhóm 3 bao gồm: 

- Yêu cầu an toàn chung đối với máy móc, thiết bị sản xuất;

- Yêu cầu an toàn đối với từng nhóm (loại) máy móc và thiết bị sản xuất; 

- Các biện pháp giám sát sự tuân thủ các yêu cầu về ATVSLĐ;

4. Các tiêu chuẩn thuộc nhóm 4 bao gồm: 

- Yêu cầu đối với các lớp, loại và loại thiết bị bảo vệ người lao động  và phương tiện bảo vệ cá nhân; 

- Phương pháp giám sát và đánh giá thiết bị bảo vệ và phương tiện bảo vệ cá  nhân 

 - Phân loại thiết bị bảo vệ và phương tiện bảo vệ cá nhân 

5. Các tiêu chuẩn của nhóm 5 sẽ bao gồm:

- Yêu cầu đối với các loại các yếu tố có  hại, độc hại trong sản xuất,  đặc điểm và giá trị cho phép tối đa của các thông số đó;

- Phương pháp kiểm soát các thông số và đặc điểm của các yếu tố có      hại, độc hại trong sản xuất;

 - Các phương pháp bảo vệ người lao động khỏi các yếu tố có hại, độc hại trong sản xuất;

6. Các tiêu chuẩn của nhóm 6 sẽ bao gồm:

- Các qui định về tổ chức lao động tại nơi làm việc: Thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, quá trình kiểm soát công việc,..

- Các yêu cầu về thiết kế công việc: Tư thế lao động, gánh nặng lao động,…

- Các yêu cầu về  thiết kế các trang thiết bị nơi làm việc, không gian làm việc,…

- Các yêu cầu về nhiệt độ, độ ẩm, vận tốc chuyển động của không khí, bức xạ nhiệt và mức độ ánh sáng cho mỗi loại hình lao động trong vùng làm việc.

3.2. Hệ thống Qui chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ

Từ Luật Tiêu chuẩn, qui chuẩn 2006, chúng ta có thể viết khái niệm về QC ATVSLĐ như sau: “Quy chuẩn kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế-xã hội phải tuân thủ để đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khoẻ người lao động; bảo vệ môi trường”.

Do đó, dưới hệ thống QCKT ATVSLĐ không chia phân hệ, được chia thẳng thành 5 nhóm như Bảng  2. 


Trên cơ sở này, chúng ta có thể xây dựng sơ đồ hệ thống các QC KT ATVSLĐ theo 2 cấp. Trong đó, các nhóm quy chuẩn kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động sẽ gồm:

1. Nhóm quy chuẩn kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động chung bao gồm các quy định về kỹ thuật và quản lý an toàn vệ sinh lao động áp dụng cho một lĩnh vực quản lý hoặc một nhóm sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình.

2. Nhóm quy chuẩn kỹ thuật định mức an toàn vệ sinh lao động bao gồm:

- Các quy định về mức, chỉ tiêu, yêu cầu liên quan đến an toàn sinh học, an toàn cháy nổ, an toàn cơ học, an toàn công nghiệp, an toàn xây dựng, an toàn nhiệt, an toàn hóa học, an toàn điện, an toàn thiết bị y tế, an toàn điện từ trường, an toàn bức xạ và hạt nhân;

- Các quy định về mức, chỉ tiêu, yêu cầu liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm bữa ăn ca của người lao động.

- Các quy định về mức, chỉ tiêu, yêu cầu liên quan đến vệ sinh, an toàn khi sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, chế phẩm sinh học và hoá chất dùng trong sản xuất nông-lâm nghiệp.

3. Nhóm quy chuẩn kỹ thuật an toàn vệ sinh môi trường quy định về mức, chỉ tiêu, yêu cầu về chất lượng môi trường xung quanh, về chất thải.

4. Nhóm quy chuẩn kỹ thuật vệ sinh an toàn quá trình quy định yêu cầu về vệ sinh, an toàn trong quá trình sản xuất, khai thác, chế biến, bảo quản, vận hành, vận chuyển, sử dụng, bảo trì tài nguyên, khoáng sản, sản phẩm, hàng hóa.

5. Nhóm quy chuẩn kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động trong dịchvụ quy định yêu cầu về an toàn, vệ sinh trong dịch vụ kinh doanh, thương mại, bưu chính, viễn thông, xây dựng, giáo dục, tài chính, khoa học và công nghệ, chăm sóc sức khoẻ, du lịch, giải trí, văn hoá, thể thao, vận tải, môi trường và dịch vụ trong các lĩnh vực khác.

IV. ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG KHUNG DANH MỤC HỆ THỐNG TCQC ATVSL Đ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 VÀ TẦM NHÌNH ĐẾN 2035

Để phát triển hệ thống tiêu chuẩn ATVSLĐ quốc gia ở Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035, trên cơ sở hiện trạng hệ thống tiêu chuẩn ATVSLĐ quốc gia, mục tiêu và khung danh mục đã xây dựng, đề tài đã đề xuất định hướng khung danh mục TCQCKTQG như sau:

Qua đánh giá hệ thống TCQC hiện nay, đề tài nhận thấy thấy trong giai đoạn 10 năm 2007-2017 hệ thống TCQC ATVSLĐ tăng 240 TCQC với tốc độ tăng trung bình là 3,22% năm đến năm 2017 đã là 986 TCQC. Tuy nhiên, do giai đoạn này, Luật TCQC vừa có hiệu lực và chúng ta vừa gia nhập WTO nên tốc độ này là dễ hiểu. Trong giai đoạn tiếp theo, phát triển hệ thống TCQC ATVSLĐ tức là mở rộng quy mô và độ bao quát của hệ thống TCQC ATVSLĐ trong các hoạt động kinh tế - xã hội. Do đó hệ thống TCQC ATVSLĐ vẫn sẽ tăng số lượng để có thể bao phủ mọi lĩnh vực sản xuất, nhưng sẽ chậm lại không có tốc độ cao như 10 năm trước nữa. Vì thế đề tài lựa chọn tốc độ tăng số lượng TCQC ATVSLĐ bằng 50% so với giai đoạn trước, tức là 1,6% năm giai đoạn 2020-2025 và 0,8% giai đoạn 2025-2035.

Chúng ta hội nhập quốc tế, phát triển hệ thống tiêu chuẩn quốc gia có nghĩa là phát triển cấu trúc của hệ thống tiêu chuẩn quốc gia theo tiêu chí gia tăng tỷ lệ tiêu chuẩn quốc gia hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực. Chúng ta thấy trong 10 năm, từ 2007 đến 2017, tốc độ hài hòa TCQT của TCQC ATVSLĐ ở nước ta là 2,27%/năm. Đến năm 2017 số TCQC hài hòa là: 45,87 %. Chúng ta sẽ cố gắng đẩy tốc độ tăng của TCQC ATVSLĐ VN lên 4%/năm giai đoạn đến 2025( đạt tối thiểu 70% theo bảng 4.1) và 3% giai đoạn 10 năm tiếp theo, để đạt 90% TCQC ATVSLĐ tương ứng với TCQT (10% còn lại không hài hòa, do vẫn còn một phần các TCQC VSLĐ có liên quan đến đặc thù riêng của môi trường và con người Việt Nam).

Đồng thời với việc tăng số lượng, tăng tỷ lệ TCQC ATVSLĐ được xâydựng tương ứng với phương pháp xây dựng tiêu chuẩn quốc tế; tăng tỷ lệTCQC ATVSLĐ được soát xét thay thế và hủy bỏ phù hợp với các giai đoạn hội nhập;

Gia tăng đóng góp của hệ thống TCQC ATVSLĐ vào phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế-xã hội, tạo điều kiện cho thuận lợi hoá trong thương mại.



Hình 2. Sơ đồ phát triển khung TC,QC KT ATVSLĐ ở Việt Nam đến 2025 và 2035

V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Trên cơ sở tổng quan các hệ thống quản lý ATVSLĐ cùng với hệ thống các TCQC KT ATVSLĐ ở một số nước trên thế giới, khu vực và ở Việt Nam, khảo sát đánh giá 10 cơ sở sản xuất có áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ, nghiên cứu đề xuất các chỉ số đánh giá hệ thống TCQC KT ATVSLĐ và xây dựng danh mục hệ thống TCQC KT ATVSLĐ cho công tác quản lý ATVSLĐ ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đề tài đã có một số kết luận như sau:

1. Mục tiêu chiến lược của hệ thống tiêu chuẩn quốc gia nằm trong việc cung cấp điều kiện cần thiết cho các ngành công nghiệp để tối ưu hóa việc sử dụng tiêu chuẩn hóa. Hệ thống tiêu chuẩn của nền kinh tế cần nêu rõ tầm nhìn định hướng mục tiêu cũng như quan điểm chỉ đạo rõ ràng để hoạch định, điều chỉnh, thực thi và đánh giá các hoạt động tiêu chuẩn hóa ở cấp quốc gia cũng như ở cấp ngành. Các chiến lược ngành nên tập trung vào các vấn đề toàn cầu mới nổi và công nghệ mới, phản ánh khả năng cạnh tranh công nghiệp của nền kinh tế.

2. Ở các nước phát triển, các TCQC ATVSLĐ luôn phải thay đổi để theo kịp sự phát triển công nghiệp và công nghệ. Các tiêu chuẩn luôn được sủa đổi để luôn hiện đại hóa và đơn giản hóa các thủ tục nhằm giảm bớt gánh nặng về kinh doanh và khuyến khích tăng trưởng thông qua việc đảm bảo để hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp tốt nhất nhằm quản lý rủi ro tại nơi làm việc.

3. Ở Việt Nam, nhìn tổng thể, các TCQC KT ATVSLĐ hiện nay đã bao phủ đa phần các lĩnh vực của sản xuất tạo cơ sở phục vụ tốt cho thực tế sản xuất và cơ bản kiểm soát được công tác ATVSLĐ. Tuy nhiên mức bao phủ còn mỏng và có nhiều chỗ còn tạo khoảng hở do chưa đủ quy chuẩn, tiêu chuẩn để đáp ứng cho nhu cầu phát triển và hội nhập kinh tế trong thời gian qua, ngoài ra cũng có khá nhiều bất cập về qui mô bao quát, bố cục cũng như nội dung chi tiết và hình thức áp dụng. Do vậy để góp phần thúc đấy phát triển sản xuất, hội nhập quốc tế, bảo đảm an toàn và sức khỏe cho NLĐ, hệ thống TCQC KT ATVSLĐ Việt Nam cần được hoàn thiện, đổi mới đảm bảo sự thống nhất về quản lý nhà nước và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức tham gia lao động sản xuất.

5.2 Khuyến nghị

Những người thực hiện đề tài đề xuất một số kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước như sau:

- Xây dựng chiến lược phát triển hệ thốngTCQC ATVSLĐ QG đến 2025 và tầm nhìn 2035;

- Phát triển số lượng TCQC ATVSLĐ QG phù hợp với sự phát triển của sản xuất, nhất là trong nền công nghiệp 4.0;

- Nâng cao sự phù hợp của các TCQC ATVSLĐ QG với các tiêu chuẩn quốc tế một cách thích hợp thông qua việc soát xét, thay thế và xây dựng cácTCQC ATVSLĐ tương thích với Tiêu chuẩn quốc tế;

- Hoàn thiện, đổi mới cơ chế chính sách quản lý nhà nước về xây dựng hệ thống TCQC ATVSLĐ. Chuyển giao dần công việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật ATVSLĐ cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp, cơ quan tiêu chuẩn nhà nước chỉ đóng vai trò tổ chức và chủ trì việc đánh giá và công bố các tiêu chuẩn đó.

- Nghiên cứu sửa đổi Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật cho phù hợp với giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay;

- Đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho xây dựng TCQC ATVSLĐ;

- Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, quảng bá và hỗ trợ cơ sở sản xuất, kinh doanh về áp dụng TCQC ATVSLĐ QG

- Đẩy mạnh công tác xây dựng tiêu chuẩn cơ sở về ATVSLĐ và kết nối tiêu chuẩn cơ sở với tiêu chuẩn quốc gia về ATVSLĐ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Luật Tiêu chuẩn và qui chuẩn, 2006.

[2]. Luật An toàn vệ sinh lao động,2015.

[3]. Lê Vân Trình, Báo cáo tổng kết đề tài 217/04/TLĐ, Viện khoa học ATVSLĐ 2018.

[4]. Nguyễn An Lương, Phạm Quốc Quân, Lê Vân Trình, Nghiên cứu đề xuất cơ sở khoa học để xây dựng hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quản lý AT&VSLĐ phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe NLĐ trong quá trình hội nhập. Báo cáo Tổng kết đề tài KHCN-DL-02. Hà nội 2004.

[5]. Dong-Geun   Choi   (ed.) (2010) ,Standardization:   Fundamentals,   Impact,   and Business Strategy APEC Sub committeeon Standarsand Comformance. Education Guideline 3 – Textbook for Higher Education.

[6]. ILO (2003), Global Strategy on Occupational Safety and Health.

GS.TS Lê Vân Trình

Viên Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động

(Nguồn tin: Vnniosh.vn)