Đề xuất Hệ thống quản lý An toàn vệ sinh lao động trong sản xuất kết cấu thép theo tiêu chuẩn OHSAS 18001

06/02/2020

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ những năm 2002, Bộ Lao động thương binh và xã hội đã ban hành Công văn số 1229/LĐTBXH-BHLĐ ngày 29/4/2002 nhằm giới thiệu “Hướng dẫn Hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động” của Tổ chức lao động quốc tế (ILO/OSH-MS 2001) [1]. Đây chính là cơ sở ban đầu giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được quá trình đảm bảo an toàn sức khỏe và cải thiện điều kiện kiện làm việc cho người lao động.

Theo mục tiêu Chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động (2011-2015 và 2016-2020), trung bình hàng năm có thêm 2000 doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng hiệu quả một số nội dung cơ bản của hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động. Tính đến hết năm 2014, chúng ta đã có hơn 7.000 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động của ILO, cụ thể:

Bảng 1. Tình hình áp dụng hệ thống quản lý ATVSLĐ giai đoạn 2011-2015

TT

Chỉ tiêu

2011

2012

2013

2014

Tổng số

1

Số DN theo kế hoạch ban đầu

2000

2.000

2.000

2.000

8.000

2

Số DN kế hoạch điều chỉnh theo kinh phí thực cấp

1500

2000

2000

1000

6.500

3

Số DN thực tế áp dụng hiệu quả hệ thống quản lý AT,VSLĐ

1733

2419

2107

1126

7385

4

Tỷ lệ so với kế hoạch đặt ra trong năm theo kinh phí thực cấp

116%

121%

105%

113%

114%

5

Tỷ lệ so với mục tiêu hàng năm đặt ra từ đầu kỳ

87%

121%

105%

56%

92%

Nguồn: Hồ sơ quốc gia về ATVSLĐ 2010-2015

Bên cạnh đó nhiều cơ sở cũng đã tiếp cận và xây dựng hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động theo tiêu chuẩn OHSAS 18001 nhằm quản lý được những rủi ro trong quá trình hoạt động, phòng ngừa tai nạn và đảm bảo sức khỏe cho người lao động.

OHSAS 18000 (Occupational Health and Safety Assessment Series) [2] là bộ tiêu chuẩn quốc tế về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp gồm OHSAS 18001(đưa ra các yêu cầu về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp) và OHSAS 18002 (hướng dẫn triển khai OHSAS 18001) do Viện tiêu chuẩn Anh (BSI) phát hành phiên bản đầu tiên. Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý an toàn vàsức khỏe nghề nghiệp, tạo thuận lợi cho tổ chức kiểm soát và giảm thiểu những rủi ro về an toàn vàsức khỏe nghề nghiệp

Tiêu chuẩn OHSAS 18001 hiện đang được áp dụng tại nhiều cơ sở của các quốc gia trên thế giới do mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và luôn hướng đến cải tiến các hoạt động trong lĩnh vực an toàn và sức khỏe nghề nghiệp; có khả năng giúp tổ chức kiểm soát được rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động ATVSLĐ.

Do vậy đề xuất áp dụng Hệ thống quản lý ATVSLĐ trong sản xuất kết cấu thép theo tiêu chuẩn OHSAS 18001 sẽ giúp cho các cơ sở chủ động phòng ngừa rủi ro và không ngừng cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.

II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT KẾT CẤU THÉP KHU VỰC MIỀN TRUNG

2.1. Nguy cơ tai nạn lao động, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động

Tại khu vực miền Trung hiện có hơn 30 cơ sở sản xuất kết cấu thép với nhiều sản phẩm khác nhau: khung nhà lắp ghép, khung cầu đường sắt, đường ống áp lực cho các nhà máy thủy điện, bồn bể xăng dầu… với năng lực sản xuất từ 1.000-5.000 tấn/năm và lực lượng lao động dao động trong khoảng 100 người. Với một số máy móc thiết bị phổ biến được sử dụng trong quá trình sản xuất như máy cắt plasma, máy cắt thủy lực, máy cuốn, máy hàn điện…Qua khảosát thực tế cho thấy một số những nguy cơ tai nạn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động có khả năng xuất hiện tại các cơ sở sản xuất kết cấu thép liên quan đến các yếu tố sau:

a) Bố trí mặt bằng sản xuất: từ nguyên liệu ban đầu là thép tấm, thép hình để gia công hoàn thiệnsản phẩm kết cấu thép theo yêu cầu, quá trình sản xuất của cơ sở được phân chia theo quy trình sản xuất với các máy móc thiết bị đi kèm phục vụ cho từng công đoạn cụ thể:

+ Khu vực chuẩn bị: nguyên liệu chính thép tấm và thép hình cùng với phương tiện, thiết bị tham gia vào quá trình di chuyển, xếp dỡ nguyên liệu phục vụ cho sản xuất như xe nâng, pa lăng xích và dàn cầu lăn 5 tấn.

+ Khu vực gia công: tập trung chủ yếu thiết bị phục vụ cho quá trình gia công như một số máy gia công kim loại như máy khoan, máy tiện, máy mài và những máy sử dụng chủ yếu cho quá trình cắt thép tấm như: máy cắt thủy lực, máy uốn, máy cắt plasma, máy rùa…

+ Khu vực lắp ráp và hàn: chủ yếu bố trí các máy hàn điện hồ quang, máy hàn Mig/Mag để hàn liên kết các chi tiết, bộ phận của sản phẩm. Đây là khu vực chiếm nhiều diện tích và lực lượng lao động của cơ sở

+ Khu vực vệ sinh và sơn: thường bố trí cuối của quá trình sản xuất, công tác vệ sinh và sơn thủ công thường được tiến hành trong không gian chung; riêng khu vực phun cát (phun bi) và phòng sơn được bố trí độc lập cách ly. 

Theo thiết kế ban đầu các khu vực làm việc, máy móc thiết bị trong nhà xưởng đều được bố trí đảm bảo yêu cầu sản xuất và đáp ứng các tiêu chí về an toàn, vệ sinh lao động. Tuy nhiên sau một thời gian hoạt động sản xuất do yêu cầu tập trung chủ yếu cho việc hoàn thành các đơn hàng gia công nên cơ sở đã có những thay đổi, điều chỉnh về mặt bằng, bố trí thiết bị có thể ảnh hưởng đến việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động.Các kết cấu sản phẩm có kích thước lớn trong quá trình gia công thường che khuất các cửa sổ làm hạn chế quá trình thông gió chung của nhà xưởng; làm cho việc di chuyển đi lại của người lao động trong nhà xưởng khó khăn có thể dẫn đến tai nạn lao động do va chạm các kết cấu có cạnh sắc nhọn hoặc bề mặt có nhiệt độ cao

b) Nguy cơ tai nạn do sử dụng điện không an toàn: đây là yếu tố dễ nhận thấy tại các cơ sở sản xuất kết cấu thép liên quan đến quá trình lắp đặt, sử dụng điện. Nguy cơ tai nạn do điện giật hoặc cháy nổ có thể xuất hiện tại một số vị trí, công việc sau:

+ Tủ điện: đa số các tủ điện trong nhà xưởng không có các chỉ dẫn, ký hiệu an toàn liên quan đến thiết bị sử dụng; lớp sơn bảo vệ đã bị bong tróc, nhiều tủ điện không được đóng kín do cánh cửa đã bị hỏng.

+ Dây dẫn cấp điện: đa số các máy móc, thiết bị sử dụng điện hệ thống dây dẫn được lắp đặt cố định và có ống bảo vệ; riêng dây dẫn cấp điện cho thiết bị hàn thường kéo rãi kéo dưới mặt đất nhưng không được bảo vệ nên dễ bị hư hỏng cách điện do va chạm với các chi tiết, cạnh sắt nhọn; do tiếp xúc với nhiệt độ cao của xỉ hàn hoặc bị các vật nặng khác đè dập…

+ Đấu nối thiết bi sử dụng điện: máy hàn điện là thiết bị sử dụng phổ biến tại các cơ sở và khi đấu nối điện cho máy hàn hiện nay chủ yếu do người thợ hàn thực hiện không phải do thợ điện nên luôn có nguy cơ mất an toàn.

+Xuất hiện dòng điện rò ra vỏ kim loại thiết bị sử dụng điện: do cách điện bị hư hỏng có thể xuất hiện làm cho vỏ kim loại của thiết bị có điện và gây giật điện nếu người lao động va chạm.

Yếu tố nguy hiểm về điện là một trong những yếu tố nguy hiểm chết người nhiều nhất trong những năm qua theo số liệu thống kê báo cáo tai nạn lao động hàng năm của Bộ lao động thương binh và xã hội nên cơ sở cần phải lưu ý để phòng ngừa nguy cơ tai nạn. Ngoài ra khi sử dụng điện quá tải hoặc ngắn mạch có thể dẫn đến nguy cơ cháy nổ nhà xưởng có thể gây thiệt hại lớn về tài sản và đồng thời quá trình cháy nổ có thể tiếp tục gây ra tai nạn cho người lao động.

c) Cháy nổ:  nguy cơ cháy nổ tại các cơ sở liên quan đến việc sử dụng điện, dung môi sơn hoặc quá trình hàn cắt kim loại.

Hàn cắt kim loại là công việc chủ yếu tại cơ sở sản xuất kết cấu thép, trong quá trình hàn cắt kim loại luôn có nguy cơ cao về cháy nổ  do một số nguyên nhân như:

+ Văng bắn các hạt kim loại nóng chảy: khi hàn cắt kim loại làm phát sinh xỉ hàn hoặc các hạt kim loại nóng chảy với nhiệt độ độ cao (từ 2.500 0C đến 4.0000C), khi văng bắn vào các vật liệu dễ cháy như giẻ lau, giấy…có thể gây cháy nếu không phát hiện và dập lửa kịp thời. Thực tế nhiều năm qua cho thấy nhiều vụ cháy nhà xưởng, cơ sở kinh doanh bị cháy rụi và gây chết người do xỉ hàn văng bắn do vậy cơ sở cần có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

+ Cháy nổ do các chai chứa khí sử dụng để cắt kim loại: khi sử dụng các chai chứa khí có thể dẫn đến cháy nổ do khí bị rò rỉ do đường ống dẫn khí bị hư hỏng, các mối nối không chắc chắn; khoảng cách từ chai chứa khí đến nguồn nhiệt (vị trí hàn cắt kim loại) không đảm bảo khoảng cách an toàn theo quy định [3] hoặc việc tháo lắp, đấu nối làm phát sinh tia lửa.

d) Vi khí hậu không đảm bảo: một yếu tố tác động xấu đến sức khỏe người lao động có thể cảm nhận rõ nét trong nhà xưởng sản xuất đó là nhiệt độ môi trường làm việc luôn nóng bức do một số yếu tố liên quan như: nhiệt lượng phát sinh thường xuyên do quá trình công việc hàn cắt kim loại và biện pháp thông gió của nhà xưởng không hiệu quả. Người lao động làm việc trong điều kiện nhiệt độ cao thường thấy người mệt mỏi, nhức đầu, buồn nôn, chóng mặt..ngoài ra mồ hôi phải thoát ra kéo theo muối, nước và các vi chất sẽ gây mất cân bằng điện giải (ion K, Na, Ca, Ivà vitamin nhóm B, C... trong cơ thể), ảnh hưởng đến chức năng của hệ tuần hoàn, có thể dẫn đến suy thận…; làm gia tăng nguy cơ tai nạn lao động.

e) Hơi khí độc: Hơi khí độc đặc trưng trong các cơ sở đó chính là khí phát sinh do qúa trình hàn cắt kim loại.

+ Các khí sinh ra trong quá trình hàn: Nito oxyt (NO), Nito dioxyt (NO2), Cacbon monoxyt (CO), Hydro Fluorid (HF)…

+ Hơi kim loại như sắt, Mangan, Crom (đối với thép không rỉ)…

+ Các loại khí trơ như Argon, Nito, Cacbon dyoxyt…

Bên cạnh đó do khu vực làm việc không được thông thoáng, giữa các khu vực không có ngăn cách hợp lý nên mức độ tác động của hơi khí độc càng gia tăng đối với người lao động ở các khu vực làm việc khác.

Hơi khí hàn có thể gây các triệu chứng cấp tính như kích ứng mắt, mũi hoặc có thể gây tổn thương hệ thần kinh, hệ hô hấp khi tiếp xúc trong thời gian dài. Ngoài ra do các cơ sở tập trung nhiều công việc hàn trong một không gian hạn chế có thể gây ngạt đối với người lao động do sự hình thành khí Cacbon monoxyt. Người lao động cảm nhận được tác hại từ quá trình hàn cắt kim loại nhưng chưa hiểu được khả năng tác động lâu dài của hơi khi độc đến sức khỏe nên chưa quan tâm nhiều đến biện pháp phòng ngừa.

Ngoài ra trong quá trình sơn phủ bề mặt cho sản phẩm, người lao động luôn đối diện với các hóa chất độc hại có trong sơn

f) Tia bức xạ: tia hồng ngoại và tia tử ngoại phát sinh trong quá trình hàn cắt, không chỉ tác động đến người lao động trực tiếp thực hiện công việc mà tia bức xạ có thể tác động đến những người lao động làm việc ở khu vực chung quanh nếu không được che chắn an toàn. Tia bức xạ hàn có thể gây bỏng da, bỏng võng mạc, với những triệu chứng khó chịu với mắt như xốn mắt, đỏ mắt.

Ngoài ra một số nguy cơ tai nạn khác như đứt tay chân va chạm, giẫm đạp vật sắc nhọn (các cạnh của vật liệu, sản phẩm), bỏng do va chạm vật có nhiệt độ cao (bề mặt chi tiết hàn cắt kim loại)..cũng có thể xuất hiện thường xuyên tại các cơ sở sản xuất kết cấu thép mà người lao động cần lưu ý đề phòng.

Số liệu thống kê tình hình tai nạn lao động của 02 cơ sở sản xuất kết cấu thép khảo sát tại Đà Nẵng và Bình Định được thể hiện tại Bảng 2.

Bảng 2. Tình hình tai nạn lao động          

STT

Khu vực sản xuất

Cơ sở tại Đà Nẵng

Cơ sở tại Bình Định

Ghi chú

2016

2017

2016

2017

01

Chuẩn bị

0

0

1

0


02

Cắt, uốn

0

1

0

2


03

Lắp ráp

2

1

2

1


04

Hàn, chỉnh sửa

1

2

1

0


05

Vệ sinh

0

0

0

0


06

Sơn

0

0

0

0


Chấn thương của người lao động tại 02 cơ sở chủ yếu là va chạm vật sắc nhọn và bỏng khi tiếp xúc vật có nhiệt độ cao do hàn. Tuy nhiên trong quá trình sản xuất các cơ sở phát sinh những yếu tố nguy hiểm có thể gây ra tai nạn chết người cũng như nguy cơ cháy nổ cao nên cần phải tăng cường biện pháp phòng ngừa để đảm bảo an toàn lao động.

Phân loại sức khỏe năm 2017 của 02 cơ sở sản xuất kết cấu thép khảo sát tại Đà Nẵng và Bình Định được thể hiện tại và Bảng 3.

Bảng  3. Phân loại sức khỏe năm 2017 của 02 cơ sở

S người được KSK định kỳ

Tổng số

Loại I

Loại II

Loại IIl

Loại IV

Loại V

CS tại Đà Nẵng

63/77

12

34

16

1

0

Tỷ lệ %

81,82%

19,05

53,97

25,39

1,59


CS tại Bình Định

112/130

19

71

21

1

0

Tỷ lệ %

86,15%

16,96

63,39

18,76

0,89


Hơn 50% người lao động có sức khỏe loại II, còn chủ yếu là sức khỏe loại III và loại I. Tuy nhiên do môi trường làm việc có nhiều yếu tố ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động nên cơ sở cần quan tâm đến các biện pháp cải thiện môi trường làm việc cho người lao động.

2.2.Các hoạt động đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động

Nhìn chung các cơ sở khảo sát đã triển khai thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động và các chế độ bảo hộ lao động cho người lao động, cụ thể như:

a) Tổ chức bộ phận an toàn, vệ sinh lao động:

Các cơ sở sản xuất kết cấu thép được khảo sát (có số lượng lao động từ 50-200 người) đều bố trí một người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ bán chuyên trách; điều này chưa đúng với quy định pháp luật hiện hành [4] là phải bố trí một người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo chế độ chuyên trách.

Điều kiện làm việc tại các cơ sở sản xuất kết cấu thép luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai nạn cũng như tác động xấu đến sức khỏe người lao động nên vai trò của người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động rất quan trong trong quá trình quy trì việc đảm bảo an toàn cho quá trình sản xuất cũng như cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Do là bán chuyên trách, phải kiêm nhiệm nhiều công việc nên thực tế thời gian tập trung cho công tác an toàn, vệ sinh lao động của người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở hiện không đảm bảo yêu cầu; nhất là việc xây dựng và duy trì các biện pháp đảm bảo an toàn trong quá trình sản xuất.

Do vậy trong quá trình khảo sát tại cơ sở chúng tôi cũng đã khuyến cáo để cơ sở có biện pháp bổ sung kịp thời nhằm đảm bảo theo yêu cầu pháp luật và đảm bảo an toàn, vệ sinh trong quá trình hoạt động.

b) Tổ chức bộ phận y tế: theo quy định [4], cơ sở phải có 01 người làm công tác y tế  có trình độ trung cấp nhưng thực tế khảo sát cho thấy cả 02 cơ sở đều không thực hiện đúng theo quy định;tại khu vực sản xuất cơ sở đều có bố trí một tủ thuốc để có thể sơ cứu ban đầu cho người lao động nhưng số lượng và các dụng cụ, thiết bị đi kèm vẫn không đảm bảo so với quy định [5]. Đây là hạn chế chung của 02 cơ sở và chúng tôi cũng đã đề nghị cơ sở có kế hoạch tuyển dụng và phân công người đáp ứng yêu cầu chuyên môn về y tế để phụ trách công tác y tế tại cơ sở.

c) Mạng lưới an toàn, vệ sinh viên:

Trong số 02 cơ sở khảo sát, chỉ có cơ sở sản xuất kết cấu thép tại Bình Định có tổ chức mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; tuy nhiên thực tế vai trò và hoạt động của các an toàn, vệ sinh viên chưa thể hiện rõ nét tại các bộ phận sản xuất. Việc nhắc nhở, kiểm tra việc chấp hành các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động của người lao động chủ yếu là tổ trưởng hoặc quản đốc phân xưởng sản xuất.Việc tổ chức tập huấn hoặc bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm cho an toàn vệ sinh viên chưa được các cơ sở quan tâm thực hiện; chỉ khi nào công đoàn cấp trên có mở các tập huấn an toàn, vệ sinh lao động và gửi thông báo thì tổ chức cơ sở cử từ một đến hai người là cán bộ công đoàn hoặc an toàn vệ sinh viên tham gia.

Cơ sở tại Đà Nẵng chưa tổ chức mạng lưới an toàn vệ sinh viên mà chỉ phân công người giám sát công tác an toàn, vệ sinh lao động tại xưởng sản xuất.

Do không có mạng lưới an toàn, vệ sinh viên hoặc có nhưng chưa hoạt động hiệu quả sẽ không thường xuyên nhắc nhở, hướng dẫn người lao động tuân thủ các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động; cũng như phát hiện, báo cáo kịp thời những nguy cơ tai nạn lao động với người phụ trách giúp cho việc phòng ngừa rủi ro trong quá trình sản xuất.

d) Tổ chức hội đồng an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở:

Các cơ sở được khảo sát có số lượng lao động dao động từ 50-200 người nên không thành lập Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động [4] mà chỉ phân công Phó giám đốc của cơ sở phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở. Trong quá trình triển khai các hoạt động liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động luôn có sự tham gia phối hợp tích cực của công đoàn cơ sở nên đã giúp cho việc tuân thủ các quy định pháp luật và đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động của cơ sở được duy trì thực hiện.

e) Các biện pháp phòng chống yếu tố nguy hiểm, có hại

Một số biện pháp phòng chống các yếu tố nguy hiểm, có hại được các cơ sở thực hiện bao gồm:

- Huấn luyện an toàn vệ sinh lao động: cơ sở đã hợp đồng với các đơn vị đủ điều kiện huấn luyện tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người sử dụng lao động và người lao động, tuy nhiên một số hạn chế liên quan đến công tác huấn luyện của 02 cơ sở bao gồm:

+ Các hồ sơ, tài liệu liên quan đến công tác huấn luyện chưa được lưu giữ đầy đủ;

+ Chưa tổ chức huấn luyện định kỳ theo đúng quy định cho các Nhóm đối tượng của cơ sở;

+ Một số người làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao động [6] nhưng không có thẻ an toàn hoặc thẻ an toàn đã hết thời hạn theo quy định (chủ yếu là những ngườilàm công việc hàn cắt kim loại)

- Khám sức khỏe định kỳ và bồi dưỡng độc hại bằng hiện vật cho người lao động: đây là hai hoạt động đều được cơ sở thực hiện theo quy định.

- Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân: phương tiện bảo vệ cá nhân các cơ sở cấp phát cho người lao động chủ yếu là áo quần, găng tay, khẩu trang, giày chống vật sắc nhọn chưa đầy đủ theo quy định hiện hành [7], chất lượng chưa được đảm bảo và không kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân của người lao động.

Đặc biệt đối với người lao động làm công việc hàn cắt kim loại phải được trang bị và sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân chuyên dùng như mặt nạ hàn, giày hoặc ủng cách điện nhằm phòng chống các yếu tố nguy hiểm, có hại nhưng qua khảo sát cho thấy một số người vẫn không sử dụng trong quá trình làm việc.

- Thông gió khu vực làm việc: đặc trưng dễ nhận thấy tại cơ sở sản xuất kết cấu thép đó là môi trường làm việc luôn có nhiệt độ cao gây cảm giác nóng bức, khó chịu cho người lao động. Biện pháp thông gió tự nhiên của nhà xưởng hạn chế, do vậy các cơ sở đã tiến lắp đặt quạt trục tại các khu vực làm việc nhằm thông gió chống nóng cho người lao động; tuy nhiên biện pháp này vẫn chưa hiệu quả, kết quả đo và đánh giá nguy cơ rủi ro cho thấy đây vẫn là yếu tố có mức nguy cơ rủi ro cao mà cơ sở cần phải khắc phục nhằm đảm bảo sức khỏe cho người lao động.

- Lắp đặt hệ thống chống sét, nối đất an toàn cho nhà xưởng: điện trở nối đất hệ thống chống sét đánh thẳng và nối đất an toàn cho nhà xưởng đều đạt yêu cầu so với quy định [8], [9]  tuy nhiên nhiều máy móc, thiết bị chưa được nối đất an toàn (đa số các máy hàn điện chưa được nối đất) nên nguy cơ giật điện do dòng điện rò vẫn có khả năng xảy ra.

III. ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG QUẢN LÝ ATVSLĐ TRONG SẢN XUẤT KẾT CẤU THÉP THEO TIÊU CHUẨN OHSAS 18001

3.1.Yêu cầu áp dụng hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động

Trong quá trình sản xuất kết cấu thép phát sinh nhiều yếu tố nguy hiểm, có hại có nguy cơ cao gây tai nạn lao động và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người lao động, tuy nhiên hiên nay việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại các cơ sở sản xuất kết cấu thép khu vực miền Trung chủ yếu là cố gắng thực hiện các biện pháp nhằm đáp ứng yêu cầu pháp luật; chưa có cơ sở nào xây dựng một hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động để chủ động kiểm soát được những nguy cơ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp có khả năng xảy ra trong quá trình sản xuất cũng như cải tiến liên tục điều kiện làm việc cho người lao động. Yêu cầu áp dụng Hệ thống quản lý ATVSLĐ cho các cơ sở sản xuất kết cấu thép nhằm giúp cho cơ sở chủ động kiểm soát được rủi ro đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người lao động đồng thời đáp ứng được mục tiêu của Chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động.

Hệ thống quản lý ATVSLĐ theo tiêu chuẩn OHSAS 18001đã được nhiều cơ sở sản xuất trên thế giới cũng như trong nước áp dụng trong thời gian qua đã cho thấy hiệu quả trong việc bảo vệ người lao động, tăng cường sự tuân thủ pháp luật, nâng cao giá trị của và tăng cương năng lực quản lý cho cơ sower cũng như người lao động.

Cấu trúc của hệ thống quản lý an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp được xây dựng dựa trên mô hình P-D-C-A và bao gồm:

- Thiết lập chính sách an toàn: đây là chủ trương và định hướng chung của doanh nghiệpcó liên quan đến kết quả thực hiện ATVSLĐ được người lãnh đạo cao nhất cam kết bằng văn bản và phổ biến cho tất cả mọi người trong cơ sở.

- Lập kế hoạch: thiết lập các mục tiêu về ATVSLĐ và các quy trình cần thiết (nhận diện mối nguy, quản lý rủi ro, tuân thủ pháp luật ) để đạt được các kết quả phù hợp với chính sách ATVSLĐcủadoanh nghiệp

- Thực hiện và điều hành: quy định vai trò trách nhiệm của mọi người và quá trình triển khai thực hiện các quy trình đã đề xuất

- Kiểm tra và hành động khắc phục: là quá trình giám sát và đo lường các quy trình đã thực dựa trên chính sách, mục tiêu ATVSLĐ, các yêu cầu pháp luật và báo cáo kết quả.

- Xem xét của lãnh đạo: lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp, sau từng thời gian đã được xác định, cần xem xét lại hệ thống quản lý an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp nhằm đảm bảo tính thích hợp, đầy đủ và hiệu quả liên tục của hệ thống.

Khi xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ, doanh nghiệp phải thiết lập và duy trì các yêu cầu của hệ thống. Việc vận hành, cải tiến liên tục dựa trên cơ sở trách nhiệm của từng cá nhân trong tổ chức cũng như các quy trình cụ thể cho từng công việc đã được cơ sở phê duyệt sẽ ngăn ngừa được tai nạn cũng như đảm bảo sức khỏe người lao động và liên tục cải

3.2. Đề xuất hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động trong sản xuất kết cấu thép theo tiêu chuẩn OHSAS 18001

a) Thiết lập tổ chức hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động

Trên cơ sở các yêu cầu của hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp theo tiêu chuẩn OHSAS 18001, Giám đốc cam kết thiết lập một hệ thống quản lý ATVSLĐ nhằm thực hiện Chính sách ATVSLĐ đáp ứng các yêu cầu:

- Phù hợp với bàn chất và quy mô các rủi ro ATVSLĐ của nhà máy;

- Cam kết phòng ngừa tai nạn lao động, ảnh hưởng xấu đến sưc khỏe và cải tiến liên tục;

- Tuân thủ các quy định pháp luật và các yêu cầu khác về ATVSLĐ;

- Là cơ sở cho việc thiết lập và xem xét các mục tiêu về ATVSLĐ;

- Phổ biến cho tất cả mọi người lao động để họ nhận thức được các nghĩa vụ của mình;

- Được lập thành văn bản, được thực hiện và duy trì;

- Được xem xét định kỳ để bảo chính sách phù hợp với nhà máy

Nhà máy cần thành lập Ban thực hiện HTQL ATVSLĐ của Nhà máy bao gồm đại diện Ban giám đốc Nhà máy cùng các phòng ban và đơn vị sản xuất củaNhà máy, cụ thể như Hình 1:


             Hình 1.Sơ đồ tổ chức HTQL ATVSLĐ Nhà máy kết cấu thép

- Giám đốcNhà máy: là người chịu trách nhiệm cao nhất để điều hành hệ thống đạt được hiệu quả. Giám đốc chịu trách nhiệm phân bổ nhân sự, các nguồn lực cần thiết để hệ thống vận hành theo đúng các yêu cầu. Giám đốc phân công 01 Phó giám đốc đại diện thay mặt mình điều hành quá trình thực hiện hệ thống tại Nhà máy.

- Phó Giám đốc đại diện: có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, kiểm tra quá trình vận hành của hệ thống nhằm đáp ứng các yêu cầu, phù hợp với tiêu chuẩn OHSAS18001; kịp thời báo cáo Giám đốc kết quả thực hiện và là cơ sở cho quá trình cải tiến liên tục của hệ thống.

- Các trưởng bộ phận (phòng, xưởng, tổ sản xuất): chịu trách nhiệm liên quan về công tác ATVSLĐ đến bộ phận phụ trách và thực thi các trách nhiệm liên quan đã được phân công nhằm giúp cho quá trình tuân thủ các yêu cầu được đảm bảo và báo cáo kịp thời những vấn đề phát sinh cho Phó giám đốc đại diện để có biện pháp xử lý.

- Người làm công tác ATVSLĐ: đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các công tác ATVSLĐ của các bộ phận liên quan và báo cáo, đề xuất kịp thời biện pháp kiểm soát những nguy cơ rủi ro trong quá trình làm việc.

- Mạng lưới ATVSLĐ: thường xuyên hướng dẫn, nhắc nhở người lao động tuân thủ các biện pháp ATVSLĐ trong quá trình làm việc và báo cáo kịp thời những nguy gây mất ATVSLĐ.

Vai trò, trách nhiệm và quyền hạn về công tác ATVSLĐ của các cá nhân phải được quy định cụ thể và phổ biến cho từng người để mọi người hiểu và thực hiện đầy đủ nhằm giúp cho hệ thống vận hành hiệu quả.

b) Các hồ sơ, thủ tục, tài liệu của hệ thống quản lý ATVSLĐ

Để triển khai thực hiện và vận hành hệ thống quản lý ATVSLĐ theo tiêu chuẩn OHSAS 18001 hiệu quả, Nhà máy cần biên soạn bộ tài liệu như Bảng 4.

Bảng 4. Bộ tài liệu Hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động

STT

Tên tài liệu

Ký hiệu

1

Chính sách An toàn, vệ sinh lao động

A.01

2

Sổ tay Hệ thống quản lý ATVSLĐ

A.02

3

Vai trò trách nhiệm và quyền hạn về ATVSLĐ

A.03

4

Quy trình nhận diện mối nguy, đánh giá nguy cơ

A.04

5

Quy trình tuân thủ yêu cầu pháp luật

A.05

6

Quy trình tiếp cận quá trình, xác định mục tiêu, chỉ tiêu

A.06

7

Quy trình đào tạo huấn luyện

A.07

8

Quy trình trao đổi thông tin,tham gia và tham vấn

A.08

9

Quy trình kiểm soát tài liệu

A.09

10

Quy trình chuẩn bị và ứng phó tình huống khẩn cấp

A.10

11

Quy trình đo lường và theo dõi thực hiện

A.11

12

Quy trình điều tra tai nạn, sự cố, sự không phù hợp, hành động khắc phục phòng ngừa

A.12

13

Quy trình kiểm soát hồ sơ

A.13

14

Quy trình đánh giá nội bộ và kiểm tra an toàn định kỳ

A.14

15

Quy trình xem xét của lãnh đạo

A.15

Tài liệu được biên soạn, phổ biến (văn bản bằng giấy, files mềm) cho mọi người có trách nhiệm liên quan thực hiện.Nhà máy nên duy trì đầy đủ tài liệu cập nhật để đảm bảo rằng hệ thống của mình được hiểu đầy đủ và vận hành hiệu quả. Tài liệu nên xem xét theo thời gian để đảm bảo hiệu lực và độ chính xác. Các tài liệu, dữ liệu lỗi thời cần được loại bỏ nhằm tránh việc nhầm lẫn khi sử dụng.

Thủ tục (quy trình) thực hiện cho từng công việc cụ thể theo yêu cầu của hệ thống được xây dựng chi tiết bao gồm các thứ tự các nội dung công việc, người chịu trách nhiệm thực hiện và các tài liệu/biểu mẫu liên quan cần phải đáp ứng. Quy trình xây dựng càng chi tiết, cụ thể sẽ giúp cho quá trình thực hiện công việc được thuận tiện, nhanh chóng, đạt hiệu qủa cao; bên cạnh đó nếu có những khó khăn, phát sinh trong quá trình thực hiện sẽ được phát hiện và giải quyết kịp thời.

Hồ sơ của hệ thống đó là những tài liệu công bố các kết quả đạt được hay các bằng chứng về các hoạt động được thực hiện trong quá trình nhà máy vận hành hệ thống quản lý ATVSLĐ. Nhà máy phải thiết lập và duy trì các thủ tục để phân định, bảo quản và xử lý các hồ sơ về ATVSLĐ cũng như các kết quả đánh giá, xem xét. Hồ sơ cần rõ ràng, dễ phân biệt và dễ tìm ra nguồn gốc nhằm chứng minh rằng hệ thống quản lý hoạt động hiệu quả.

Hồ sơ các quy trình bao gồm các biểu mẫu và phải được lưu giữ theo đúng thời gian quy định.

c) Cách thức vận hành và duy trì hệ thống quản lý ATVSLĐ hàng ngày.

Hệ thống quản lý ATVSLĐ phải được vận hành và duy trì thường xuyên cùng với hoạt động sản xuất của cơ sở. Các bộ phận, cá nhân liên quan phải tham gia quá trình vận hành và duy trì thường xuyên hệ thống trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm đã được quy định nhằm đáp ứng các mục tiêu đã đề ra, đảm bảo tuân thủ Chính sách ATVSLĐ đã được cam kết.

Ban giám đốc chịu trách nhiệm chung về việc thực hiện, duy trì và giám sát hoạt động của HTQL ATVSLĐ nên phải được các bộ phận trực thuộc báo cáo kịp thời các thông tin liên quan về kết quả thực hiện công tác ATVSLĐ để có thể quyết định, bổ sung kịp thời nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêuATVSLĐ và Chính sách đã cam kết.

Những rủi ro xảy ra (nếu có) thường xuất phát từ các khu vực sản xuất liên quan đến quá trình vận hành máy móc, thiết bị, hoạt động của người lao động do vậy quá trình kiểm soát, xử lý việc tuân thủ các quy định về ATVSLĐcần phải được quan tâm khi vận hành hệ thống quản lý ATVSLĐ.

- Người lao động: trong quá trình làm việc luôn tuân thủ các giải pháp quản lý rủi ro đã được triển khai thực hiện liên quan đến nhiệm vụ công việc được phân công. Trong quá trình làm việc nếu phát hiện sự cố hoặc những mối nguy chưa được nhận diện xuất hiện phải báo cáo với người phụ trách trực tiếp (tổ trưởng, quản đốc...) để kịp thời cập nhật, xem xét và có biện pháp đảm bảo ATVSLĐ.

- Mạng lưới an toàn, vệ sinh viên: trước khi bắt đầu công việc hàng ngày phải kiểm tra tình trạng an toàn của máy móc, thiết bị nếu có hư hỏng gây mất an toàn phải kiến nghị với tổ trưởng (hoặc quản đốc, người làm công tác ATVSLĐ) để có biện pháp xử lý; thường xuyên hướng dẫn, nhắc nhở người lao động trong tổ sản xuất tuân thủ các quy định về ATVSLĐ.

- Phụ  trách các bộ phận thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra việc tuân thủ các quy trình, biện pháp ATVSLĐ của các bộ phận theo trách nhiệm được phân công. Những nội dung công việc liên quan đến các quy trình đã được xây dựng của hệ thống phải đảm bảo được cập nhật, báo cáo, xử lý, lưu giữ theo đúng quy định. Phải tổ chức họp nhóm đột xuất  để giải quyết những vấn đề phát sinh:

+ Khi có những phát sinh trong hoạt động sản xuất;

+ Khi có sự cố tai nạn lao động nặng hoặc chết người xảy ra;

+ Khi có yêu cầu thanh kiểm tra của cơ quan chức năng.

+ Các đơn vị phối hợp tổ chức họp trao đổi thông tin và các đơn vị tổ chức họp người lao động trong đơn vị để triển khai các công việc liên quan.

Kết thúc buổi họp phải thống báo biên bản cuộc họp cho các đơn vị, cá nhân liên quan; các đơn vị, cá nhận thực hiện các yêu cầu liên quan được thông báo trong biên bản;

Hoạt động sản xuất luôn chi phối nhiều thời gian của cơ sở cũng như người lao động, tuy nhiên việc tuân thủ các quy trình của hệ thống quản lý ATVSLĐ là một yêu cầu bắt buộc đối với tất cả người lao động và người sử dụng lao động của cơ sở. Phải ưu tiên cho quá trình kiểm soát rủi ro để ngăn ngừa tai nạn, suy giảm sức khỏe; duy trì sản xuất ổn định và cải thiện điều kiện làm việc ngày càng tốt hơn.      

III. KẾT LUẬN

Xây dựng Hệ thống quản lý ATVSLĐ hiện nay chưa phải là yêu cầu bắt buộc đối với các cơ sở sản xuất, tuy nhiên một trong những mục tiêu của Chương trình quốc gia quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động giai đoạn 2016-2020là “…trung bình hàng năm tăng thêm 2000 doanh nghiệp vừa và nhỏ áp dụng hiệu quả một số nội dung cơ bản của hệ thống quản lý ATVSLĐ...” là cơ sở để chúng ta vận động các cơ sở có nhiều nguy cơ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ.
Việc xây dựng, áp dụng Hệ thống quản lý ATVSLĐ không chỉ giúp cơ sở quản lý được những rủi ro trong hoạt động sản xuất mà còn giúp cho cơ sở nâng cao giá trị, thương hiệu trong quá trình hội nhập.
Với đề xuất này, chúng tôi mong muốn sẽ cung cấp những nội dung liên quan giúp cho các cơ sở sản xuất kết cấu thép tại miền Trung có thể tiến hành xây dựng hệ thống quản lý ATVSLĐ nhằm tăng cường đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người lao động và tăng sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Công văn số 1229/LĐTBXH-BHLĐ ngày 29/4/2002 nhằm giới thiệu “Hướng dẫn Hệ thống quản lý an toàn, vệ sinh lao động” của Tổ chức lao động quốc tế (ILO/OSH-MS 2001)

[2]. BS OHSAS 18001:2007 Occupational health and safety management systems - Requirements (bản tiếng Việt và tiếng Anh)

[3]. QCVN 17:2013/BLĐTBXH “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động đối với công việc hàn hơi”

[4]. Nghị định số 39/2016/NĐ-CP, ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2016 “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn, vệ sinh lao động”

[5]. Thông tư số 19/2016/TT-BYT ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2016 “Hướng dẫn quản lý vệ sinh lao động và sức khỏe người lao động”

[6]. Thông tư số 13/2016/TT-BLĐTBXH, ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2016 “Ban hành danh mục công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động”

[7]. Thông tư  số 14/2014/TT-BLĐTBXH, ban hành ngày 12 tháng 2 năm 2014 “Hướng dẫn thực hiện chế độ trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân”

[8]. TCXDVN 9385:2012 “Chống sét cho các công trình xây dựng-Hướng dẫn thiết kế, kiểm tra và bảo trì hệ thống”

[9]. Quy phạm trang bị điện-Phần 1 Quy định chung 11 TCN-18-2006


KS Nguyễn Anh Hoàng và các cộng sự

 Phân viện khoa học ATVSLĐ&BVMT miền Trung


(Nguồn tin: Vnniosh.vn)