Tổng hợp và đặc trưng tính chất của Graphene dnagj khử (rGO) ứng dụng làm chất hấp phụ dung môi hữu cơ trong môi trường làm việc

22/09/2020
Graphenen oxit dạng khử (rGO) được chế tạo thành công bằng phương pháp Hummer cải biến. Các phương pháp chụp ảnh quét điện tử (SEM) đã cho thấy graphite đã bị tách lớp sau khi oxi hóa trong môi trường axit H2SO4 đậm đặc. Các nhóm chức chứa oxy cũng được gắn trên bề mặt của graphene oxít, được thấy trên kết quả của phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR). Các thông tin về diện tích bề mặt riêng, thể tích lỗ xốp, kích thước hạt đã được đo bằng phương pháp BET và cho thấy hạt GO có đường kính mao quản trung bình. Trong nghiên cứu này, rGO được sử dụng làm vật liệu hấp phụ dung môi hữu cơ bay hơi trong môi trường làm việc. Dung lượng hấp phụ toluene của graphene được xác định là 180mg/g. Bài toán quy hoạch thực nghiệm được áp dụng thông qua phần mềm STAGRAPHIC để tìm ra điều kiện hấp phụ tối ưu. Mô hình động học hấp phụ được xác định là tuân theo quy luật động học bậc nhất.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay, các hoạt động công nghiệp đã phát sinh nhiều chất ô nhiễm. Môi trường sẽ bị ô nhiễm nếu không được thu gom và xử lý. Đặc biệt, sức khỏe người lao động sẽ bị ảnh hưởng nếu tiếp xúc trực tiếp. Ô nhiễm do các nguồn thải có nguồn gốc hữu cơ đã được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây. Các loại hydrocacbon thơm có trong các nguồn thải của các nhà máy lọc dầu, chế biến khí, sản xuất đồ gỗ công nghiệp, sơn.. có thể bay hơi và phát tán xa, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con ngườivà môi trường.

Toluene và xylene có thể phát hiện ở nhiều nguồn thải. Chúng được dùng phổ biển làm dung môi trong nhiều loại hình công nghiệp. Khả năng gây ô nhiễm không khí và tác động đến sức khỏe người lao động là cao. Các dung môi hữu cơ bay hơi (VOC) được cho là nguyên nhân của nhiều bệnh tật như ung thư, bệnh về hô hấp. Vì vậy, cần thiết phải được xử lý, tách chúng khỏi môi trường.

Có nhiều phương pháp để xử lý các loại VOC hiện đang áp dụng như đốt, thu gom, phân hủy sinh học, hấp phụ… Trong đó hấp phụ được cho là phương pháp hiệu quả nhất, nhiều nghiên cứu áp dụng. Nhiều vật liệu hấp phụ cũng được nghiên cứu để đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu đặt ra của thực tế. Vật liệu có nguồn gốc C có nhiều ưu điểm được sử dụng nhiều trong hấp phụ như khối lượng riêng thấp, bền hóa học, phù hợp với quy mô lớn. Nhiều nghiên cứu tập trung vào loại vật liệu này nhằm mở rộng hơn nữa khả năng áp dụng của phương pháp. Yêu cầu nghiên cứu tạo vật liệu hấp phụ mới cũng luôn được đặt ra.

Graphene là loại vật liệu có cấu trúc 2 chiều, tạo nên cấu trúc dạng tổ ong rất bền vững. Nó có những tính chất ưu việt như độ bền cơ học cao, độ dẫn điện cao và khả năng che chắn dạng phân tử. Graphene cho khả năng hấp phụ tốt đối với các chất ô nhiễm có vòng thơm do chứa hàm lượng O thấp hơn, kỵ nước tốt hơn, diện tích bề mặt lớn. Graphene có cấu trúc dạng tấm mỏng kích thước nano, có nhiều tâm khuyết tật nên có khả năng hấp phụ cao với các hợp chất vòng thơm, có thể cao hơn 10-15 lần so với carbon ống nano. Người ta cho rằng, ngoài có tính kỵ nước cao, rGO có thể tạo ra tương tác pi-pi với các phân tử hữu cơ. Tươn tác pi-pi này đã tạo nên khả năng hấp phụ cao cho các chất ô nhiễm có một hay nhiều vòng benzene trong cấu trúc …Do vậy, loại vật liệu này có nhiều triển vọng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như composite, điện cực điện hóa, lớp phủ và đặc biệt làm chất hấp phụ…[1], [2].

Năm 2017, Yu và cộng sự đã sử dụng graphene oxit ở dạng oxi hóa (GO) và dạng khử (rGO) làm chất hấp phụ VOC. Graphene oxit được tổng hợp bằng phương pháp Hummer. Phương pháp Hummer có thể tạo được GO với hiệu quả cao. Vật liệu cũng được đặc trưng bằng các phương pháp vật lý hiện đại như SEM, TEM, FTIR. rGO thu được với diện tích bề mặt riêng lớn hơn GO; khả năng hấp phụ VOC cũng lớn hơn. Dung lượng hấp phụ toluene và benzen lần lượt là 276 và 304 mg/g đối với rGO. Sau khi hấp phụ, rGO được gia nhiệt lên 150oC trong môi trường N2 để giải hấp. Tuy vậy, các kết quả này chỉ với quy mô nhỏ, mỗi mẻ tổng hợp chỉ 3g với graphite có độ tinh khiết cao [2].   

Năm 2018, Kim và cộng sự đã nghiên cứu, sử dụng graphene oxit dạng khử để làm chất hấp phụ tách toluene và acetaldehyde với hiệu suất hấp phụ đạt đến 98%. Tương tác pi-pi giữa bề mặt graphene và phân tử toluene là đóng góp quan trọng để nâng cao hiệu quả hấp phụ. Vật liệu hấp phụ được đặc trưng các tính chất bằng các phương pháp vật lý hiện đại như hấp phụ-nhả hấp phụ đẳng nhiệt, phổ Raman, kính hiển vi điện tử quết SEM [3].

Năm 2019, Lim và cộng sự đã sử dụng graphene dạng bột có cấu trúc vi xốp để hấp phụ toluene và xylene ở các nồng độ khác nhau (30, 50, 100ppm). Graphene được xử lý nhiệt có thể đạt diện tích bề mặt riêng đến 542 m2/g, khả năng hấp phụ toluene, xylene đến trên 98%. Graphene cũng được đặc trưng tính chất bằng các phương pháp hóa lý hiện đại. Nghiên cứu cũng chỉ ra, kích thước lỗ xốp đóng vai trò quan trọng trong quá trình hấp phụ. Quá trình giải hấp được thực hiện ở gia nhiệt 150oC và khả năng hấp phụ giảm khoảng 4% [4].

Ở Việt Nam, không có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá khả năng hấp phụ dung môi hữu cơ bay hơi của GO, rGO. Nhiều công trình tập trung đánh giá khả năng hấp phụ chất hữu cơ trong nước thải [5].

Như vậy, graphene vẫn đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu làm chất hấp phụ. Trong nghiên cứu này, graphene oxit dạng khử (rGO) được nghiên cứu tổng hợp và khảo sát các đặc trưng tính chất đồng thời việc sử dụng nó làm chất hấp phụ các dung môi hữu cơ cũng được khảo sát, đánh giá. Các kết quả nghiên cứu sẽ được mở rộng cho quy mô lớn hơn từ tổng hợp chế tạo vật liệu đến ứng dụng thực tế.

II. THỰC NGHIỆM

Hóa chất, nguyên liệu sử dụng: Graphite được cung cấp bởi Aldich-Sigma, có hàm lượng C > 99%, kích thước hạt < 45 mm. Các hóa chất H2SO4 98%, NaNO3, KMnO4 (Trung Quốc) thuộc loại tinh khiết, không phải xử lý gì trước khi dùng.

Tổng hợp graphene oxit (GO): được tổng hợp từ graphite bằng phương pháp Hummer cải biến theo quy trình như sau: Phân tán hỗn hợp gồm 3g graphite, 3g NaNO3 trong 90 ml axit H2SO4 đậm đặc, trong 30 phút, tốc độ khuấy 2.500 vòng/phút. Hỗn hợp luôn được giữ ở 5oC. Thêm từ từ 9g KMnO4 vào hỗn hợp, duy trì nhiệt độ này và khuấy đều trong 2 giờ. Hỗn hợp dần chuyển sang màu nâu đậm. Sau đó thêm dần nước cất, giữ nhiệt độ ở 50oC, tiếp tục khuấy trộn trong 1 giờ. Thêm 400ml H2O2 30% để oxi hóa lượng KMnO4 dư thừa sau phản ứng. Hỗn hợp được lọc, rửa nhiều lần bằng nước cất trên máy lọc chân không cho đến khi nước rửa đạt pH=7. Mang GO đi sấy ở 50 oC trong môi trường không khí ta thu được sản phẩm graphene oxit dạng bột (GO) [2].

Tạo graphene oxit dạng khử (rGO): GO thu được từ quy trình trên được khử bằng axit arcobic (vitamin C) trong dung dịch với hàm lượng 0,1g axit arscobic/1g graphene oxit. Hệ phân tán GO và axit ascobic trong nước được khuấy trộn liên tục trong 30 phút ở nhiệt độ 50oC. Hệ dần chuyển sang màu đen đậm, có thể nhận thấy các hạt rGO. Sản phẩm rGO được lọc, rửa nhiều lần để tách loại hết axit và muối trong sản phẩm, sấy khô ở 50oC trong 24h.  

Đặc trưng tính chất của mẫu: Một số tính chất của mẫu GO, rGO được xác định bằng các phương pháp: chụp ảnh bằng kính hiển vi điện tử quét SEM (HITACHI-4800 FESEM, Viện Kỹ thuật Nhiệt đới, Hà Nội); Kính hiển vi điên tử truyền qua TEM (JEM-1400, Nanotechnology Lab, SHTP labs, Thành phố Hồ Chí Minh); Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier FTIR (STA6000, Perkin Elmer, Mỹ, tại Trường Đại học Bách khoa, ĐH Đà Nẵng); Đo diện tích bề mặt riêng bằng phương pháp BET (trên máy ASAP-2020, Micromeritics, Mỹ, tại Trường ĐH Bách khoa, ĐH Đà Nẵng).

Nghiên cứu hấp phụ: Các thí nghiệm đánh giá hấp phụ được thực hiện trong thiết bị hấp phụ gián đoạn. Dung môi lựa chọn cho nghiên cứu là toluene, bay hơi tự nhiên từ dạng lỏng, trong bình kín có thể tích 22l. Hơi dung môi được bơm định lượng bơm với các tốc độ xác định qua lớp vật liệu graphene và trở lại bình chứa. Nồng độ dung môi được phân tích theo từng khoảng thời gian trên máy sắc ký khí (GC). Vật liệu hấp phụ được sử dụng khảo sát ở dạng khử rGO.

Hiệu suất hấp phụ H - là phần trăm lượng dung môi bị giữ lại sau hấp phụ Hiệu suất được tính bằng công thức:

H= 100% x (Cđầu-Csau)/Cđầu

Dung lượng hấp phụ (Qt) được xác định là lượng toluene (mg với lượng graphene cho mỗi thí nghiệm là 4g.

Tối ưu hóa thực nghiệm: phương pháp thống kê được sử dụng để tối ưu hóa các thông số của quá trình hấp phụ. Phần mềm STATGRAPHICS, phiên bản 15.1.02, phương pháp B) mất đi do hấp phụ ở graphene, tính trên 1g chất hấp phụ, sau khoảng thời gian t. Các thí nghiệm được tiến hành gián đoạnox-Behnken được sử dụng để xây dựng ma trận thực nghiệm. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình : nhiệt độ X1 (oC), nồng độ hơi dung môi ban đầu X2 (ppm), tốc độ hơi dung môi vào thiết bị hấp phụ X3 (m/s).

Mức trên, mức dưới của các yếu tố được khảo sát như sau:

                        - Mức cao: X1max = 50oC;        X2max = 1.000 ppm;        X3max  = 0,35 m/s

                        - Mức thấp: X1min= 25oC;        X2min = 100 ppm;           X3min   = 0,05 m/s

Như vậy, cần bố trí 15 thí nghiệm theo ma trận của phương pháp. Giá trị H thu được của 15 thí nghiệm này được đưa vào phần mềm để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố (phân tích phương sai – ANOVA) từ đó tìm được điều kiện thí nghiệm để H đạt cực đại trong vùng khảo sát này.

Xác định phương trình động học hấp phụ: Các tham số động học hấp phụ rất quan trọng để nghiên cứu ứng dụng. Do quá trình hấp phụ phức tạp nên người ta thường dùng phương trình động học hình thức xác định các hằng số tốc độ biểu kiến, được xây dựng theo mô hình động học hấp phụ biểu kiến Lagergren [5].

Giả thiết mô hình bậc nhất:

         Qe, Qt là dung lượng hấp phụ ở cân bằng và thời điểm khảo sát t nào đó (mg/g). Như vậy, nếu quan hệ ln(Qe-Qt) theo t là đường thẳng thì mô hình bậc 1 là phù hợp. Tương tự cho mô hình bậc 2.

Giả thiết mô hình bậc 2:


Với: k1, k2 là hằng số tốc độ hấp phụ, Qt: dung lượng hấp phụ tại thời điểm t, Qe: dung lượng hấp phụ cân bằng.

Như vậy, với các kết quả thực nghiệm, ta có thể thử với hai mô hình động học hình thức này, tính toán các thông số động học cho quá trình

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Cấu trúc tế vi của graphene oxit

Kết quả chụp ảnh SEM của GO và graphite được thể hiện ở Hình 1.


Từ kết quả chụp SEM, có thể nhận thấy bề mặt của GO (Hình 1a) bề mặt có sự bong tróc, nhám hơn, có vị trí bị tách lớp. Các nếp gấp, vùng tối sáng cho sự tương phản của các lớp bị tách ra. GO vẫn còn cấu trúc lớp. So sánh ảnh SEM của graphite (Hình 1b), các lớp của graphite ban đầu dày, sít chặt và láng bóng hơn.

Sản phẩm rGO được chụp ảnh TEM (Hình 2), cấu trúc lớp có thể thấy được rõ ràng hơn. Các lớp của rGO  mỏng hơn. Điều này chứng tỏ lớp rGO đã được hình thành, là yếu tố quan trọng để tạo nên cấu trúc vi xốp của rGO.

3.2. Kết quả đo diện tích bề mặt riêng bằng phương pháp BET

Kết quả đo BET của các mẫu GO, rGO và graphite thể hiện ở Bảng 1.

Bảng 1: Kết quả đo BET của vật liệu graphite, graphene oxit (GO) và dạng khử (rGO)

Thông số

Graphite

GO

rGO

Diện tích bề mặt (m2/g)




Thể tích vi mao quản (cm3/g)




Kích thước hạt trung bình (Ao)




Kích thước các lỗ xốp TB (Ao)




Kết quả ở Bảng 1 cho thấy, diện tích bề mặt riêng của vật liệu graphen oxit (GO) đạt được là 72,9367 m2/g lớn hơn nhiều so với graphite. GO có cấu trúc nano với kích thước hạt trung bình nhỏ hơn và độ xốp cao hơn khá nhiều so với hạt graphite. Diện tích bề mặt riêng của rGO được cải thiện đáng kể sau khi khử, đạt được là 424,45m2/g. So với graphite ban đầu, rGO thu được có giá trị diện tích bề mặt riêng lớn hơn nhiều. Vật liệu graphene có cấu trúc vi xốp, mao quản thuộc loại trung bình.

Như vậy, bằng quá trình oxi hóa hóa học trong môi trường H2SO4 với KMnO4 làm chất oxi hóa, các lớp graphite được được bóc tách ra, rGO tạo ra nhiều không gian xốp với độ xốp khá cao so với graphite.

3.3. Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) của graphene oxit (GO)

Kết quả phổ hồng ngoại FTIR của GO, rGO sau khi tổng hợp được thể hiện ở Hình 2 và Bảng 2

Bảng 2: Đặc trưng phổ hồng ngoại các nhóm chức của GO

Số sóng (cm-1)

Gán các dao động

3397

Dao động của nhóm -OH trong GO và của nước hấp phụ, tạo liên kết hydro giữa các lớp graphite

1732

đặc trưng cho nhóm cacbonyl của andehyde hoặc axít hoặc cetone

1622 , 1050 

tương ứng với dao động C-OH của nhóm hydroxyl và C-O của epoxy

Như vậy, oxi hóa hóa học graphite bằng KMnO4 trong môi trường axit H2SO4 đã gắn thành công các nhóm chức chứa O lên cấu trúc của GO. Các nhóm chức cơ bản đều có các số sóng đặc trưng được phát hiện trên phổ FTIR.

Sau khi khử GO bằng axit ascobic, trên rGO không có bất cứ pic như đối với GO. Quá trình khử bằng axit arscobic đã loại bỏ các nhóm chức chứa oxy trên GO, làm tách các lớp ra, tạo nên nhiều khoảng trống, lỗ xốp tế vi.

3.4 Ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả hấp phụ

Ma trận bố trí và kết quả thí nghiệm của tính hiệu suất hấp phụ toluene của graphene được thể hiện ở Bảng 3.

Bảng 3: Ma trận thí nghiệm theo phương pháp Box-Behnken

Thí nghiệm

Nhiệt độ

(oC)

Nồng độ

(ppm)

Tốc độ

(m/s)

Hiệu suất hấp phụ

thực nghiệm

(%)


X1

X2

X3

 H

1

25

100

0.2

88.6

2

50

100

0.2

88.4

3

37.5

1000

0.05

86.6

4

50

1000

0.2

87.3

5

37.5

100

0.05

88.8

6

50

550

0.35

88.5

7

50

550

0.05

86.7

8

25

550

0.05

89.4

9

37.5

1000

0.35

87.1

10

25

1000

0.2

87.5

11

25

550

0.35

86.2

12

37.5

100

0.35

87.05

13

37.5

550

0.2

86

14

37.5

550

0.2

86

15

37.5

550

0.2

86


Kết quả phân tích phương sai được thể hiện ở Bảng  (xuất ra từ  phần mềm STATGRAPHICS)

Bảng 4: Kết quả phân tích phương sai (ANOVA)

Nguồn sai số

(Source)


Tổng bình phương

(Sum of Squares)

Bậc tự do   

Df

Sai số bình phương

Mean Square

Giá trị thống kê F   (F-Ratio)

Độ tin cậy P (P-Value)

A:x1

0.08

1

0.08

128.00

0.0001

B:X2

2.36531

1

2.36531

3784.50

0.0000

C:X3

0.877813

1

0.877813

1404.50

0.0000

AA

4.72514

1

4.72514

7560.23

0.0000

AB

0.0

1

0.0

0.00

1.0000

AC

6.25

1

6.25

10000.00

0.0000

BB

2.47514

1

2.47514

3960.23

0.0000

BC

1.26562

1

1.26562

2025.00

0.0000

CC

1.19437

1

1.19437

1911.00

0.0000

Total error

0.003125

5

0.000625



Total (corr.)

18.2443

14




R-squared = 99.9829 percent

R-squared (adjusted for d.f.) = 99.952 percent

Standard Error of Est. = 0.025

Mean absolute error = 0.0116667

Durbin-Watson statistic = 1.4375 (P=0.0599)

Lag 1 residual autocorrelation = 0.275

Kết quả phân tích ANOVA cho thấy sự biến thiên của H khi có các yếu tố ảnh hưởng. Với mô hình lựa chọn, giá trị p-value thu được đều nhỏ hơn 0,05 trong phân tích phương sai, độ tin cậy đạt đến 95%. Các yếu tố đều có ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình hấp phụ.

Giá trị R-squared =99,9829 % cho thấy mô hình lựa chọn phù hợp với giá trị thực nghiệm với độ tin cậy cao. Với modun Optimisation của phần mềm, kết quả tối ưu hóa hàm mục tiêu H cho ta kết quả của điều kiện hấp phụ thể hiện trên Hình 4 (xuất ra từ phần mềm).

Hiệu suất hấp phụ đạt giá trị cực đại là 91,2% trong điều kiện tối ưu đạt được X1=25,2 oC; X2=100 ppm; X3=0,05 m/s

3.5. Xác định dung lượng hấp phụ

Với các điều kiện tối ưu thu được từ kết quả quy hoạch thí nghiệm, dung lượng hấp phụ Qt theo thời gian được thể hiện ở Bảng 5.

Bảng 5. Dung lượng hấp phụ toluene theo thời gian

Thời gian (giờ)

0

12345610

Q(mg/g)

0

40

70

120

180

180

181

181

Như vậy, dung lượng hấp phụ toluene của graphene sẽ tăng dần theo thời gian, sau 4 giờ hấp phụ, dung lượng Qt gần như không thay đổi đạt 180 mg/g.

Về cơ chế hấp phụ, chủ yếu là tương tác tĩnh điện, π- π liên kết và tương tác kỵ nước. Do có vòng benzene và bề mặt kỵ nước, tương tác tĩnh điện,π- π liên kết và tương tác kỵ nước giữa VOC và rGO có thể đã xảy ra. Nhóm methyl của toluene có thể tương tác với nhóm chứa O trên bề mặt rGO thông qua liên kết H, có thể làm tăng thêm tương tác hấp phụ toluene lên rGO [1, 2, 3].

Bảng 6. Sự thay đổi Qt theo thời gian

Thời gian (giờ)

0

1

2

3

4

Q(mg/g)

0

40

70

120

180

Ln (Qe-Qt)

5,19

4,94

4,7

4,09

-

t/Qt

-

0,025

0,028

0,025

0,022



Hình 5. Kiểm tra mô hình quá trình hấp phụ toluene bằng rGO

a) với mô hình động học bậc 1; b) mô hình động học bậc 2

Kết quả cho thấy quá trình hấp phụ Toluene của graphene tuân theo quy luật động học bậc 1 với hằng số tốc độ phản ứng hấp phụ k1= 0,4028mg/g.h. (Hình 5).

IV. KẾT LUẬN

Graphene oxít (GO) được chế tạo thành công từ graphite bằng phương pháp hóa học. GO có thể khử bằng axit ascobic để tạo GO dạng khử (rGO). Các kết quả phổ hống ngoại, ảnh chụp bằng kính hiển vi điện tử quét, truyền qua, đo diện tích bề mặt riêng cho thấy rGO tạo ra có cấu trúc vi xốp, diện tích bề mặt riêng đạt được trên 400 m2/g. Thông qua các kết quả phổ IR và phổ XRD, có thể khẳng định rằng GO đã được tổng hợp thành công với các nhóm chức đặc trưng được gắn lên cấu trúc của nó.

Ứng dụng phần mềm STATGRAPHIC trong quy hoạch bố trí thí nghiệm và tối ưu đã cho thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt độ, nồng độ ban đầu, tốc độ dòng đến hiệu suất hấp phụ. Điều kiện tối ưu được áp dụng để đánh giá dung lượng hấp phụ hơi toluene của graphene, đạt khoảng 180 mg/g. Động học quá trình hấp phụ toluene của graphene được biểu diễn bằng phương trình động học hình thức bậc 1.    

LỜI CÁM ƠN

Nhóm đề tài cám ơn sự hỗ trợ kinh phí của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thông qua đề tài cấp TLĐ mã số CTTĐ-2019/02/TLĐ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[[1]] A. Azizi, A. Torabian, E. Moniri, and A. H. Hassani (2016), Adsorption performance of modified graphene oxide nanoparticles for the removal of toluene , ethylbenzene , and xylene from aqueous solution, Jourrnal Desalination and water treatment, Vol 57,2016 – Issue 59, Pages 28806-28821.

[[2]] Lian Yu1, Long Wang, Weicheng Xu, Limin Chen, Mingli Fu, Junliang Wu, Daiqi Ye, (2018), Adsorption of VOCs on reduced graphene oxide, J. Environ. Sci. (China), Vol 67,  pp. 171–178.

[[3]] J. M. Kim, J. H. Kim, C. Y. Lee, D. W. Jerng, and H. S. Ahn (2018), Toluene and acetaldehyde removal from air on to graphene-based adsorbents with microsized pores, J. Hazard. Mater., vol. 344, pp. 458–465.

[[4]] S. T. Lim et al. (2019), “Mesoporous graphene adsorbents for the removal of toluene and xylene at various concentrations and its reusability,” Sci. Rep., vol. 9, no. 1, pp. 1–12.

[[5]] Hà Quang Ánh (2016), Nghiên cứu tổng hợp và đặc trưng vật liệu mới cấu trúc nano trên cơ sở graphene ứng dụng trong xử lý môi trường, Luận án tiến sĩ, Viện Hàn lâm KH và CN Việt Nam.

Lê Minh Đức

Phân viện Khoa học An toàn Vệ sinh lao động và Bảo vệ môi trường miền Trung

(Nguồn tin: Vnniosh.vn)