Ngành tái chế rác thải điện tử chính quy: Các khó khăn và cơ hội trong nghiên cứu về sức khỏe môi trường và nghề nghiệp

08/08/2017

TÓM TẮT

Bối cảnh: Rác thải điện tử bao gồm các thiết bị điện và điện tử bị loại bỏ mà không có ý định được tái sử dụng. Công việc tái chế rác thải điện tử không chính quy thường được thực hiện trong các mô hình nhỏ và không có tổ chức, có thể khiến cho người lao động và cộng đồng phải đối mặt với các nguy cơ về sức khỏe do hóa chất. Hiện chúng ta vẫn chưa thể chắc chắn rằng việc chính quy hóa thành các cơ sở tái chế rác thải điện tử lớn và được quản lý tốt hơn có thể hoàn toàn giải quyết được các vấn đề về sức khỏe và môi trường không.

Mục tiêu: Nhằm đánh giá có hệ thống các tài liệu về các mối nguy hại về sức khỏe môi trường và nghề nghiệp của các cơ sở tái chế rác thải điện tử chính quy, và thảo luận các khó khăn và cơ hội trong việc củng cố nghiên cứu ở khu vực này.

 Phương pháp: Chúng tôi đã tìm được 37 tài liệu được xuất bản chuyên biệt về nguy cơ phơi nhiễm hóa chất từ 4 kho dữ liệu điện tử (PubMed, Web of Science, Environmental Index, NIOSHTIC-2).

Thảo luận: Nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp và từ môi trường phụ thuộc vào mức độ chính quy hóa các cơ sở tái chế, tuy nhiên chúng ta vẫn phải tiếp tục làm giảm tỉ lệ này. Số lượng người lao động bị phơi nhiễm với kim loại được báo cáo lên thường luôn cao hơn so với chỉ số cho phép ở các tài liệu hướng dẫn. Nồng độ của chất hãm cháy brom hóa có trong không khí mà người lao động hít vào và trong các mẫu sinh học cao hơn so với mức độ trong các nhóm đối chứng. Nồng độ của kim loại, chất hãm cháy brom hóa, dioxin, furan, hydro cac-bon thơm đa vòng, PCB trong không khí, bụi và đất tại bên trong hoặc gần các cơ sở tái chế thường cao hơn so với các địa điểm đối chứng, cho thấy rằng chúng đã được vận chuyển đến các địa điểm này. Con cái của những người làm nghề tái chế cũng có nồng độ chì trong máu cao hơn nồng độ cho phép trong các tài liệu hướng dẫn.

Kết luận: Việc thu gom rác thải điện tử khiến cho ngày càng nhiều người lao động cùng gia đình của họ và cộng đồng phải đối mặt với nguy cơ từ kim loại và các loại hóa chất khác. Chúng tôi đã xác định được những nhu cầu nghiên cứu để tiếp tục đánh giá nguy cơ phơi nhiễm, sức khỏe và hoàn thiện việc kiểm soát. Giải pháp lâu dài là sản xuất các thiết bị điện tử không có chứa các hóa chất nguy hiểm và các bộ phận dễ tháo rời.  

1. Giới thiệu

Việc sản  xuất, đưa vào thị trường, sử dụng, tái chế và tiêu hủy các thiết bị điện từ đã tăng lên rất nhanh trong vài thập niên qua, kể từ khi chiếc máy tính đầu tiên được chế tạo. Các công nghệ mới tăng trưởng nhanh chóng khiến cho các thiết bị điện tử trở nên lạc hậu đôi khi chỉ sau vài ngày được mua về. Điều đáng quan tâm nhất là tổng lượng thiết bị điện tử bị thải hồi trên toàn cầu, còn gọi là rác thải điện tử (RĐT). Tổng lượng RĐT trên thế giới năm 2014 được ước tính vào khoảng 41,8 triệu tấn (theo số liệu từ ĐH LHQ, 2014). RĐT có thể bảo gồm thiết bị điện tử như bàn phím, màn hình, máy tính, ĐTDĐ; hoặc thiết bị gia dụng như ti vi; thiết bị văn phòng như máy in, đèn; vật dụng cá nhân như máy ảnh; hoặc một số loại vật dụng khác như các tấm pin mặt trời. Tại Hoa Kỳ, có 4,4 triệu tấn RĐT được tái chế trong các cơ sở tái chế điện tử chính quy vào năm 2011 (ISRI,2016), chỉ chiếm 25% trên tổng số lượng RĐT (U.S.EPA, 2011).

Một phần RĐT trên thế giới được tái chế tại các khu tái chế RĐT không chính quy ở các nước đang phát triển, ví dụ như Agbogbloshie ở Ghana (Kyere và cộng sự, 2016). Trong vài năm vừa qua, các nước đang phát triển như Colombia và Trung Quốc đã bắt đầu thành lập các cơ sở tái chế RĐT chính quy, đưa RĐT vào trong nhà đồng thời thực hiện các biện pháp bảo hộ đối với nguyên vật liệu nguy hại. Trung Quốc hiện đã cho dừng các hoạt động tái chế phi chính quy tại Guiyu, nhằm cải tổ lại một trong số các địa điểm tập trung RĐT lớn nhất thành một khu công nghiệp với các cơ sở tập trung. Ở các nước đã phát triển như Mỹ và Canada, Thụy Điển, các cơ sở tái chế điện tử chính quy là điều đương nhiên thuộc quy chuẩn. Chúng tôi sẽ dung thuật ngữ “tái chế RĐT phi chính quy” đối với các hoạt động tái chế RĐT phi chính quy tại các điểm tập trung RĐT, và “tái chế RĐT chính quy” đối với các cơ sở đã được cấp phép xử lý trong nhà và có thực hiện vệ sinh công nghiệp, bảo hộ người lao động, kiểm soát ô nhiễm ở mức độ nhất định.

Việc tái chế RĐT có thể là nguồn gốc của nhiều hóa chất độc hại bao gồm các kim loại và các hợp chất hữu cơ. Đối với kim loại, có thể bao gồm cadimi (trong pin và màn hình CRT), thủy ngân (trong đèn của các màn hình LCD kiểu cũ), ni-ken (trong pin) (Grant và cộng sự.,2013; Tsydenova và Bengtsson, 2011). Các hợp chất hữu cơ có thể bao gồm chất hãm cháy (FRs) (ví dụ như nhựa…) và PCB (ví dụ như bình ngưng tụ). Nếu đốt các thiết bị điện tử, có thể sinh ra các chất như polychlorinated dibenzo p-dioxin và dibenzofuran (PCDD/Fs) (Grant và cộng sự.,2013; Matsukami và cộng sự.,2015). Grant và cộng sự vào năm 2013 cũng đã đưa ra một đánh giá có hệ thống để xác định các ảnh hưởng đến sức khỏe có thể xuất hiện đi đôi với việc phơi nhiễm hóa chất từ các địa điểm tái chế RĐT phi chính quy, bao gồm thay đổi chức năng tuyến giáp, các ảnh hưởng xấu đến trẻ sơ sinh, và suy giảm chức năng phổi.

Các công đoạn chính của tái chế RĐT chính quy luôn bắt đầu từ phân loại, kiểm nghiệm, tân trang và sửa chữa lại các thiết bị điện tử nhận được. Sau đó, các thiết bị điện tử cần được tái chế sẽ được tháo dỡ, đôi khi là nghiền vụn, rồi các nguyên liệu được phân loại tự động bằng máy hoặc thủ công. Trong một số trường hợp, có một số thiết bị cần được xử lý bằng quy trình đặc biệt, ví dụ như màn hình CRT (Ceballos và cộng sự.,2014b; Ceballos và cộng sự.,2015; Tsydenova và Bengtsson,2011), và rất nhiều cơ sở tái chế RĐT chính quy khác là đơn vị phân phối cho các bên hạ nguồn (downstream)  các nguyên vật liệu tái chế lại được như nhựa, thủy tinh và kim loại. Các biện pháp kiểm soát thông thường nhằm giảm nguy cơ phơi nhiễm gồm có hệ thống thông gió và phương tiện bảo hộ cá nhân (PPE). Trong khi ngược lại, hoạt động tái chế phi chính quy thường phân cấp hơn rất nhiều, và sử dụng rất ít nếu có các quy trình tự động và các biện pháp bảo vệ sức khỏe, thông thường chỉ dựa vào thông gió tự nhiên và không sử dụng PPE. Các quy trình thường thấy ở tái chế RĐT không chính quy gồm có phân loại thủ công, tháo dỡ, phá mối hàn của các bảng mạch in bằng cách hơ trên vỉ than để tách các con chip có giá trị ra (Chan và Wong,2013), đốt dây cáp ngoài trời để thu lấy đồng, sau đó đổ chất thải ra nơi trống trải và vào trong nước (Matsukami và cộng sự.,2015; Song và Li.,2014), các hậu quả trên sức khỏe gây ra bởi những hoạt động này ảnh hưởng cao hơn đến các cộng đồng không được bảo vệ (Heacock và cộng sự.,2016).

Mục tiêu của tài liệu này gồm có 1) đóng góp một tài liệu đánh giá cô đọng, súc tích về các nguy cơ hóa chất trong ngành công nghiệp tái chế RĐT chính quy và 2) đề xuất một khuôn khổ nghiên cứu nhằm củng cố sức khỏe nghề nghiệp và sức khỏe môi trường tại các cơ sở tái chế RĐT chính quy dựa trên tài liệu hiện có, và thảo luận về các thách thức và cơ hội để thúc đẩy nghiên cứu trong lĩnh vực này.

2. Phương pháp

Chúng tôi đã tìm kiếm các xuất bản có liên quan đến phơi nhiễm chất hóa học ở thời kỳ 1980 cho đến tháng 2 năm 2016 trong 4 cơ sở dữ liệu điện tử. Các từ khóa được sử dụng là: “tái chế” trong kho dữ liệu NIOSHTIC-2, và ở các cơ sở dữ liệu khác là: “thiết bị điện tử”, “tái chế”, “tái chế thiết bị điện tử”, “rác thải”, “rác điện tử (e waste)”,  “ewaste”, “e scrap”, “escrap”  hoặc ‘WEEE”. Việc tìm kiếm trên Web of Science được tinh giản lại chỉ trong lĩnh vực “ khoa học công nghệ” và các lĩnh vực nghiên cứu “khoa học sinh thái về môi trường”, “sức khỏe nghề nghiệp tại môi trường công cộng”, hoặc “độc chất học”. Đã xác định được 2 nghiên cứu bên ngoài (outside studies) thông qua các tài liệu tham khảo. Sau khi đã kết hợp các kết quả và loại trừ các kết quả trùng lặp, chúng tôi đã thành lập được kho dữ liệu với 1827 bài viết (hình 1).

Chúng tôi cũng đã đưa vào các nghiên cứu từ các bài đăng trên tạp chí khoa học hoặc báo cáo của chính phủ bằng tiếng Anh về các cơ sở tái chế RĐT chính quy chủ yếu thực hiện tháo dỡ thiết bị điện tử và các quy trình bằng máy khác để thu hồi nguyên vật liệu thô. Chúng tôi đã loại trừ các bài viết về các cơ sở tái chế hạ nguồn (downstream) (ví dụ như các cơ sở tái chế nhựa, các quy trình luyện kim), các bài viết về quản lý, đánh giá vòng đời hoặc dòng nguyên liệu, các phân tích kinh tế, thiế bị mới, và các loại nguy cơ khác ngoài hóa chất. Chúng tôi đánh giá các bài viết dựa trên tiêu đề và tóm tắt trước khi hoàn tất đưa vào 37 bài viết phù hợp với các tiêu chuẩn định trước.


3. Kết quả

3.1. Tài liệu hiện có về sức khỏe nghề nghiệp trong ngành tái chế RĐT chính thức (các nghiên cứu về sức khỏe nghề nghiệp có ở bảng 1)








Tại Mỹ, một số cơ sở tái chế RĐT chính quy đã bị phát hiện có khuyết thiếu trong việc xử lý ô nhiễm bụi kim loại (Ceballos và cộng sự.,2014a; Page và cộng sự.,2015). Sự phơi nhiễm quá mức qua đường hô hấp ở người lao động (ví dụ như các mẫu không khí có nồng độ cao hơn mức giới hạn phơi nhiễm nghề nghiệp/OEL) đã được phát hiện và ghi chép lại trong quá trình tái chế màn hình CRT để lấy chì hoặc cadimi (Ceballos và cộng sự.,2014a), các hoạt động làm vệ sinh (Almaguer và cộng sự.,2008; Page và Sylvain.,2009) và nghiền thiết bị (Ceballos và cộng sự.,2014a). Hai người công nhân thực hiện các quy trình tái chế màn CRT (Ceballos và cộng sự.,2014b) và hai công nhân tháo dỡ thiết bị điện tử (Page và cộng sự.,2015) được phát hiện có nồng độ chì trong máu tăng cao, tức là các mẫu sinh học trên cho thấy tài liệu hướng dẫn của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) sử dụng các chỉ số điều chỉnh sinh học đã lỗi thời, không thể phòng tránh được bệnh mạn tính (NTP,2012; CDC,2016). Sự phơi nhiễm quá mức với thủy ngân cũng đã được phát hiện trong quy trình xử lý pin kiềm gia dụng đã tái chế, đồng thời các triệu chứng liên quan đến hệ hô hấp và hệ thần kinh trung ương cũng có liên quan tới sự phơi nhiễm này (Reh và cộng sự.,2001)

Việc công nhân phơi nhiễm quá mức với kim loại tại các cơ sở tái chế RĐT chính quy đã được chứng thực trong các nghiên cứu thực hiện tại Pháp và Thụy Điển. Lecler và cộng sự (2015) đã ghi lại rất nhiều trường hợp công nhân phơi nhiễm quá mức với bari, cadimi, chì và yttrium tại 9 cơ sở tái chế RĐT chính quy chuyên xử lý màn hình CRT tại Pháp, và đã xác nhận rằng màn CRT là nguyên nhân phơi nhiễm. Zimmerman và cộng sự (2014) đã báo cáo phát hiện sự phơi nhiễm quá mức chì, yttrium cùng với thủy ngân trong việc tái chế đèn huỳnh quang tại Pháp. Julander và cộng sự (2014) đã quan sát thấy các chỉ số giảm sát sinh học của chì, indium và thủy ngân ở công nhân sản xuất cao hơn đáng kể so với người làm việc văn phòng trong công việc tái chế RĐT chính quy ở Thụy Điển. Họ đã phát hiện nồng độ chì trong máu cao hơn so với mức cho phép trong tài liệu hướng dẫn của CDC, và có thể đo được iridium trong máu, nước tiểu, và không khí mà công nhân hít vào (nồng độ iridum trong không khí cao hơn nồng độ cho phép trong tài liệu hướng dẫn nhằm phòng chống bệnh phổi indium của NIOSH).

Công việc tái chế RĐT chính quy cũng khiến người lao động phơi nhiễm BFR (chất hãm cháy brom hóa) (Rosenberg và cộng sự.,2011; Sjodin và cộng sự.,1999), PCB (Xing và cộng sự.,2010), dioxin và furan (Ma và cộng sự.,2008). Mặc dù hiện có rất ít OEL để xác định chính xác các hợp chất sinh học này và chúng cũng đã lỗi thời, Sjodin và cộng sự.(1999) đã phát hiện nồng độ BFR cao hơn đáng kể trong huyết thanh của công nhân trong ngành tái chế RĐT chính quy so với một quần thể đối chứng. Tương tự, Schecter và cộng sự.(2009) đã ước tính sự phơi nhiễm với BFR trong không khí trong nhà ở các nhà máy tái chế RĐT chính thức  có gia tăng so với nồng độ đối chứng tiêu chuẩn của người dân Hoa Kỳ thông thường. Sjodin và cộng sự (2011) đã đo được BFR và FR (chất hãm cháy) este phosphate hữu cơ trong không khí tại một cơ sở tái chế RĐT có nồng độ cao hơn so với ở những nơi làm việc khác. Hơn nữa, nồng độ BFR tại hai cơ sở đã được giảm xuống thông qua thực hiện các biện pháp can thiệp tại nơi làm việc (Rosenberg và cộng sự.,2011), cho thấy rằng các biện pháp kiểm soát kỹ thuật và quản lý có thể giảm đáng kể sự phơi nhiễm với BFR. Các kim loại và BFR được phát hiện trên bề mặt các khu vực sản xuất và không sản xuất bên trong các cơ sở tái chế RĐT chính quy ở tất cả các nghiên cứu về sức khỏe nghề nghiệp lấy mẫu chung hoặc mẫu phết (wipe sample) của bụi.

3.2. Tài liệu hiện có về sức khỏe môi trường trong ngành tái chế RĐT chính quy (các nghiên cứu về sức khỏe môi trường có ở bảng 1)

Phần lớn các nghiên cứu thực hiện đo đạc tại một thời điểm (cross-sectional) cho các mẫu không khí, bụi hoặc đất ở trong một nhà máy hoặc gần đó, và thường phát hiện nồng độ của các nhóm hóa chất như kim loại (Yang và cộng sự.,2013), BFR (Kim và cộng sự.,2015; Li và cộng sự.,2014), PCDD/Fs (Ma và cộng sự.,2008), PAH (Ma và cộng sự.,2009), và PCB (Wang và cộng sự.,2016; Xing và cộng sự., 2010) cao hơn so với ở các địa điểm đối chứng. Nồng độ cao nhất thường được phát hiện ở bụi trên sàn hoặc đất nền trong các nhà máy, dặc biệt là các mẫu bụi (Li và cộng sự.,2014; Yang và cộng sự.,2013). Nồng độ trong không khí xung quanh hoặc bụi trong nhà ở các khu dân cư gần các cơ sở tái chế thường tăng cao so với nồng độ cơ bản, cho thấy có khả năng phát tán chất gây ô nhiễm trong không khí ra môi trường xung quanh từ các cơ sở tái chế RĐT chính quy (Wang và cộng sự.,2016; Xing và cộng sự., 2010).

Trong số những nghiên cứu thực hiện tại Trung Quốc đã được xác định, có những trường hợp trong đó nhà máy là đối tượng nghiên cứu vẫn sử dụng các phương pháp tái chế thô sơ như đốt rác ngoài trời, và gây nên ô nhiễm ngang với mức độ quan sát thấy ở các điểm tái chế không chính quy (Ma và cộng sự.,2008), mặc dù nhà máy đó so với một điểm tái chế RĐT thì tập trung hơn, đã tự động hóa một phần, được đặt trong khu công trình có tường cao bao quanh, và có quy mô sản xuất lớn hơn. Do đó, các mức độ chính quy hóa luôn biến đổi giữa các cơ sở tái chế  RĐT chính quy trong nước và quốc tế có thể là yếu tố chính quyết định các rủi ro tiềm ẩn đối với môi trường và cộng đồng xung quanh.

Các nguy cơ chính về sức khỏe môi trường có thể xuất hiện do người lao động “mang về nhà”. Ví dụ như, một nghiên cứu tình huống do Neuman và cộng sự (2015) thực hiện đã phát hiện hàm lượng chì trong máu gia tăng ở hai đứa trẻ do bụi đem về nhà trên đồng phục làm việc của cha mẹ làm việc tại một nhà máy tái chế RĐT chính quy của Mỹ chuyên gia công màn CRT. Tại các nước đang phát triển mà ở đó các cơ sở tái chế RĐT chính quy có thể không có các biện pháp kiểm soát phù hợp hoặc thực hiện nghiêm túc các biện pháp an toàn, thì con đường phơi nhiễm qua mang về nhà có thể trở thành mối quan ngại lớn. Ví dụ như, người ta đã phát hiện hàm lượng PCB trong bụi ở nhà các công nhân nhập cư làm việc trong các cơ sở tái chế RĐT chính quy cao hơn so với ở các ngôi nhà lân cận của người dân địa phương (Wang và cộng sự.,2016).

4. Thảo luận

Đánh giá của chúng tôi về các tài liệu của ngành công nghiệp tái chế RĐT chính quy cho thấy rằng các ca phơi nhiễm ở người lao động được báo cáo lên thường cao hơn so với trong tài liệu cho phép đối với kim loại, và cao hơn so với nhóm đối chứng trong trường hợp của chất hãm cháy brom hóa.Nồng độ của kim loại và các hóa chất hữu cơ nguy hiểm trong đất, bụi và không khí được phát hiện ở trong hoặc ở gần các nhà máy thường cao hơn so với ở các địa điểm đối chứng, cho thấy rằng các chất này đã được vận chuyển vào môi trường làm việc. Các trường hợp phơi nhiễm do “mang về nhà” ở công nhân làm việc tái chế RĐT cũng đã được ghi chép lại.

Đánh giá của chúng tôi cũng có một hạn chế, đó là khó khăn trong việc xác định rõ một cơ sở tái chế có được coi là chính quy hay không, dựa trên các thuật ngữ khác nhau được các tác giả sử dụng. Mỗi khi có nghi ngờ, chúng tôi quyết định không trích dẫn tài liệu đã xuất bản đó. Việc so sánh các quốc gia và cơ sở tái chế khác nhau đã được nghiên cứu cũng rất khó khăn. Các tài liệu của Hoa Kỳ ghi chép rằng mỗi một cơ sở tái chế đều được cấp chứng nhận  theo tiêu chuẩn công nghiệp, nhưng nhiều nước đang phát triển không có các cơ sở đã được chứng nhận. Các chương trình cấp chứng chỉ công nghiệp đặt ra các tiêu chuẩn để tái chế và loại bỏ RĐT an toàn hơn. Cụ thể như, các chương trình cấp chửng chỉ Thực hiện tái chế có trách nhiệm (R2) và e-Stewards đã đưa vào các hướng dẫn nhằm quản lý RĐT hiệu quả và trách nhiệm hơn, trong đó gồm có an toàn và sức khỏe môi trường, nghề nghiệp; Bộ tiêu chuẩn hoạt động công nghiệp cho việc tái chế (RIOS) đã định ra một tiêu chuẩn hợp nhất cho các hệ thống quản lý chất lượng, môi trường, sức khỏe và an toàn của ngành công nghiệp. Cuối cùng, chúng tôi công nhận rằng có rất nhiều biến số tham dự vào công tác củng cố ngành công nghiệp tái chế RĐT. Ví dụ như, chúng tôi chỉ mới đề cập sơ qua vai trò quan trọng của các yếu tố kinh tế, chính trị liên quan đến hoạt động tái chế RĐT trên toàn cầu, vì nó nằm ngoài phạm vi của nghiên cứu này.

Việc cải thiện sức khỏe nghề nghiệp và sức khỏe môi trường trong ngành công nghiệp tái chế RĐT chính quy mới và năng động sẽ yêu cầu phải xây dựng một chương trình nghiên cứu 2 tầng có tính đa hướng (multi-pronged) và đa thành phần (multi-stakeholder), với sức khỏe là mối quan tâm chính (mô hình 2, bảng 2). Một số các ưu tiên nghiên cứu được đưa vào trong nghiên cứu này đã từng được thảo luận trước đây khi tập trung vào một phần hoặc toàn bộ khu vực tái chế RĐT phi chính quy (Grant và cộng sự.,2013; Heacock và cộng sự.,2016; Tsydenova và Bengtsson,2011). Tuy nhiên, theo chúng tôi biết được thì đây là tài liệu được xuất bản đầu tiên với các ưu tiên nghiên cứu được đặc biệt điều chỉnh chỉ dành cho ngành công nghiệp tái chế RĐT chính quy.


Bảng 2.  Các ưu tiên nghiên cứu nhằm cải thiện sức khỏe môi trường và nghề nghiệp trong ngành tái chế RĐT chính quy






4.1. Ưu tiên nghiên cứu của tầng 1: Phát triển một thế hệ thiết bị điện tử mới

Việc thay thế các nguyên vật liệu trong thiết bị điện tử sẽ loại bỏ các mối nguy hại từ gốc, ví dụ như các bản mẫu thiết bị điện tử chế tạo bằng cellulose phân hủy sinh học được (Jung và cộng sự.,2015), hoặc quá trình xử lý xanh đối với các thiết bị bán dẫn (Portilla và cộng sự.,2015). Một ví dụ khác là Liên minh châu Âu đã ban hành Chỉ thị ROHS (Hạn chế các chất độc hại) 2002/95/EC, trong đó yêu cầu các kim loại nặng và BFR phải được thay thế bằng các chất khác an toàn hơn. Tuy nhiên, các nỗ lực ban hành luật như vậy cần phải được thực hiện ở mức độ toàn cầu mới có thể thật sự đạt hiệu quả. Hơn nữa, các bộ phận dễ tháo dỡ của thiết bị điện tử sẽ làm giảm hoặc xóa bỏ hoàn toàn nhu cầu nghiền hoặc xử lý đặc biệt. Các thiết bị điện tử nhỏ có thể đeo được trên người đang ngày càng được sản xuất nhiều hơn, dẫn đến các khó khăn trong tương lai khi cần thu hồi và tái chế (Elliot, 2016). Việc đánh giá các tác động lên sức khỏe của hoạt động xử lý thiết bị khi vòng đời kết thúc bằng công nghệ mới, được dẫn dắt bởi quan hệ hợp tác giữa giới học viện, các nhà sản xuất thiết bị điện tử và những người tái chế là rất cấp thiết.

4.2. Ưu tiên nghiên cứu của tầng 2: cải thiện việc tái chế thiết bị điện tử

4.2.1. Ưu tiên nghiên cứu của tầng 2.1: đánh giá phơi nhiễm trong công tác tái chế RĐT chính quy

Xu hướng của các loại và nhãn hiệu RĐT cũng như công nghệ gia công, xử lý có thể thay đổi theo thời gian, và có thể dẫn tới các thay đổi tương ứng đến khả năng phơi nhiễm ở người lao động và môi trường. Các hóa chất được đưa vào trong các sản phẩm điện tử cũng có thể thay đổi theo sự sửa đổi trong các quy định về môi trường đối với các chất đó. Ví dụ như, nồng độ của một số chất hãm cháy phosphor hữu cơ được sử dụng thay cho một số loại BFR đã bị cấm hoặc thay thế ở một số nước hiện đang tăng dần trong RĐT (Matsukami và cộng sự.,2015). Hơn nữa, một nhà máy tái chế RĐT chính quy tại Hoa Kỳ dù có tuân thủ luật lệ cũng không chắc chắn sẽ bảo vệ được người lao động nếu như không thể phát hiện được hóa chất độc hại ngay từ đầu, các quy định đối với chì trở nên lỗi thời, và sự thiếu hụt các chỉ số giới hạn nghề nghiệp đối với đa số hóa chất hữu cơ cần chú ý (như FR, BFR). Các khó khăn này đi cùng với chi phí cao và tính phức tạp của công việc lấy mẫu và phân tích hóa chất cho FR, BFR và các hóa chất cùng nhóm khác.

Hiện đang có các cơ hội nhằm phát triển các công cụ đánh giá phơi nhiễm mới và thực hiện đánh giá rủi ro bằng số liệu phơi nhiễm ở người thu được từ các loại hóa chất và các đường phơi nhiễm ở người lao động, gia đình họ và người dân địa phương. Ngoài ra cũng cần phải đánh giá sự chuyển hóa môi trường (environmental fate), vận chuyển và tác động lên sức khỏe đối với dân cư lân cận và hệ sinh thái xung quanh của các các cơ sở tái chế RĐT chính quy hiện có hoặc đang trong kế hoạch xây dựng.

4.2.2. Ưu tiên nghiên cứu tầng 2.2: Hoàn thiện các biện pháp kiểm soát trong công tác tái chế RĐT chính quy

Mặc dù trong các cơ sở chính quy đã có một số công đoạn được cơ khí hóa và tự động hóa, nhưng trừ khi các biện pháp kỹ thuật và quản lý phù hợp được thực hiện đúng, thì chỉ riêng PPE sẽ không đủ để phòng tránh sự phơi nhiễm; nó là tuyến bảo vệ cuối cùng dành cho người lao động. Cũng có các cơ hội cho việc kết nối kỹ thuật và y tế công cộng để đánh giá và hoàn thiện hiệu quả của các biện pháp kiểm soát kỹ thuật, nhằm  giảm sự phơi nhiễm ở công nhân và xả thải ra môi trường ở các cơ sở tái chế RĐT. Đối với việc chuyển các bãi tập trung RĐT vào trong nhà như trường hợp ở Trung Quốc, cần phải nghiên cứu để lưu trữ lại các cải tiến trong sức khỏe môi trường và sức khỏe nghề nghiệp.

Việc không thực hiện đầy đủ các biện pháp kiểm soát ô nhiễm trong công việc tái chế thiết bị điện tử đôi khi có thể dẫn đến tạo ra các điểm tập trung rác bị ô nhiễm, ví dụ như sau khi một số cơ sở tái chế RĐT bị phá sản (Elliot và Leif,2006; Powell,2006,2006b) hoặc việc bắt buộc ngừng hoạt động điểm tái chế RĐT phi chính quy tại Guiyu, Trung Quốc. Hơn nữa, sự ô nhiễm ở các địa điểm trước đây là điểm tái chế RĐT sẽ tiếp tục ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tại môi trường hoặc công việc kinh doanh tại khu vực đó (Wu và cộng sự.,2015; Zhang và cộng sự.,2014), do rất nhiều loại hóa chất có tính chất khó phân hủy và tích lũy sinh học. Cũng có những cơ hội để đánh giá việc khử nhiễm và tái sinh lại các khu vực này, và tác động tới sức khỏe từ sự ô nhiễm để lại.

4.2.3. Ưu tiên nghiên cứu tầng 2.3: đánh giá sức khỏe liên quan đến tái chế RĐT chính quy

Cần thực hiện các nghiên cứu dịch tễ học nhằm đánh giá các bệnh mãn tính trong cộng đồng người lao động của ngành này và các cộng đồng có khả năng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, có một khó khăn có thể góp phần vào sự khan hiếm các nghiên cứu về sức khỏe trong ngành tái chế RĐT chính quy của Hoa Kỳ, đó là sự thiếu hụt các mã NAICS (Hệ thống phân loại công nghiệp Bắc Mỹ) dành riêng cho ngành công nghiệp mới mẻ này và luồng rác thải đặc biệt của nó. Ví dụ như, các cơ sở tái chế được nghiên cứu tại Hoa Kỳ được phân loại với mã NAICS gắn liền một thể với ngành công nghiệp chất thải rắn (Bastani và Celik,2015).

Khả năng thiệt hại về kinh tế của ngành công nghiệp tái chế RĐT chính quy buộc rất nhiều doanh nghiệp phải thuê nhân công tạm thời, đóng cửa sau đó mở lại dưới tên khác trong khi lực lượng lao động của họ thay đổi. Viện công nghệ tái chế phế liệu Hoa Kỳ (ISRI) báo cáo rằng có 45.000 công việc toàn thời gian có thể theo dõi được trong ngành công nghiệp tái chế RĐT chính quy của Hoa Kỳ (ISRI,2016), trong khi con số thật có thể lớn hơn nhiều. Do đó, một số công nhân có thể theo dõi được qua một nghiên cứu dịch tễ học, trong khi những người khác có thể rất khó tìm được, vì tính di động của họ.

5. Kết luận

Các thiết bị điện tử sẽ tiếp tục được sản xuất. tháo dỡ và tái chế, và việc coi sức khỏe là cốt lõi trong khi tạo ra việc làm tái chế RĐT là rất quan trọng, do trong luồng chất thải này luôn tồn tại các loại hóa chất nguy hiểm. Các cơ sở tái chế RĐT chính quy cung cấp các dịch vụ môi trường cho xã hội, và mang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng và thế giới. Việc tái chế RĐT là có lợi cho môi trường nếu được thực hiện một cách đúng đắn, do nó thu hồi lại nguyên vật liệu để tái sử dụng, và làm giảm rác thải tại các bãi rác.

Nói chung, chính quy hóa là một hướng đi mong muốn trong ngành tái chế RĐT. Mặc dù có khả năng hình thành phơi nhiễm cho công nhân và môi trường xung quanh với nhiều loại hóa chất, các cơ sở tái chế RĐT chính quy được dự kiến là sẽ cải thiện sức khỏe nghề nghiệp (Tsydenova và Bengtsson, 2011) và sức khỏe môi trường (Tang và cộng sự,2011) so với tái chế RĐT phi chính quy. Các cơ sở tái chế RĐT chính quy thường cấm không sử dụng lao động trẻ em, phân tách nơi làm việc và nơi ở của công nhân, và thực hiện các chính sách  về sức khỏe môi trường và sức khỏe nghề nghiệp, việc này thay đổi theo tùy quốc gia. Tuy nhiên, việc hoàn thiện từ chuyển đổi tái chế RĐT phi chính quy sang chính quy còn phụ thuộc vào mức độ chính quy hóa.

Ngay cả trong các cơ sở tái chế RĐT chính thức công nghệ cao, vẫn có những khó khăn trong việc đánh giá và kiểm soát sự phơi nhiễm hóa chất thường gặp trong ngành này. Nhằm củng cố ngành tái chế RĐT chính quy hiện tại trên toàn cầu, việc cấp thiết là phải có thêm vốn đầu tư từ chính phủ và tư nhân nhằm hỗ trợ chương trình nghiên cứu đa hướng, đa thành phần, dành ưu tiên cho việc phát triển một thế hệ thiết bị điện tử an toàn hơn, cái thiện các quy trình và biện pháp quản lý dành riêng cho tái chế RĐT chính quy, và hiểu rõ tầm quan trọng của sức khỏe đối với sự phơi nhiễm các hỗn hợp hóa chất phức tạp thường gặp trong tái chế thiết bị điện tử.

Lời cảm ơn

Chúng tôi xin cảm ơn bà Marilyn B Hoffman đã hỗ trợ và góp vốn cho nghiên cứu này

Chúng tôi xin cảm ơn bà Diana Ceballos, Hội viên JPB Environmental Health. Qũy JPB hỗ trợ cho Chương trình Hội viên JPB Environmental Health, quản lý bởi Trường Y tế công cộng Havard Chan

Chúng tôi xin cảm ơn các đánh giá giàu kinh nghiệm của John Spengler, Gregory Wagner, Robert Herrick, và Joseph Allen của Trưởng Y tế công cộng Havard Chan, Madeleine Scammel thuộc Đại học Y tế công cộng Boston và Sarah Westervelt thuộc Basal Action Network

Các tác giả tuyên bố rằng họ không có ý định cạnh tranh tài chính thực tế hoặc tiềm năng nào.

Tài liệu tham khảo

Almaguer, D., Burroughs, G., Echt, A., 2008a. Control technology and exposure assessment for electronic recycling operations, UNICOR,Marianna federal correctional institution, Marianna, Florida. NIOSH EPHB 326-15a. U.S. Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Institute for Occupational Safety and Health, Cincinnati, OH.

Almaguer, D., Burroughs, G., Echt, A., Marlow, D., 2008b. Control Technology and Exposure Assessment for Electronic Recycling Operations, Elkton Federal Correctional Institution, Elkton, Ohio. NIOSH EPHB 326-12a, Cincinnati, OH:U.S (Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Institute for Occupational Safety and Health).

Almaguer, D., Burroughs, G., Echt, A., Marlow, D., 2009. Control technology and exposure assessment for electronic recycling operations United States, Penitentiary, Lewisburg, Pennsylvania NIOSH EPHB-326-17a. U.S. Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Institute for Occupational Safety and Health, Cincinnati, OH.

Bastani,M., Celik, N., 2015. Assessment of occupational safety risks in floridian solidwaste systems using bayesian analysis. Waste Manag. Res. 33, 894–907.

Beaucham, C., Kawamoto, M., Brueck, S., 2014. Health hazard evaluation report: evaluation of exposure to metals at an electronic scrap recycling facility NIOSH HHE No.2013-0130-3226. U.S. Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Institute for Occupational Safety and Health, Cincinnati, OH.

Boonruksa, P., Bello, D., Zhang, J., Isaacs, J.A., Mead, J.L.,Woskie, S.R., 2016. Characterization of potential exposures to nanoparticles and fibers during manufacturing and recycling of carbon nanotube reinforced polypropylene composites. Ann. Occup. Hyg. 60, 40–55.

CDC, 2016. Adult Blood Lead Epidemiology and Surveillance (Ables). (Available: http://www.cdc.gov/niosh/topics/ABLES/description.html [accessed March 10 2016]).

Ceballos, D., Chen, L., Page, E., Echt, A., Oza, A., Ramsey, J., 2014a. Health Hazard Evaluation Report: evaluation of Occupational Exposures at an Electronic Scrap Recycling Facility. NIOSH HETA No. 2012-0100-3217 (Cincinnati, OH:U.S. Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Institute for Occupational Safety and Health).

Ceballos, D., Gong, W., Page, E., 2014b. Health Hazard Evaluation Report: a Pilot Assessment of Occupational Health Hazards in the U.S. ElectronicWaste Recycling Industry, Cincinnati, OH:Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Institute for Occupational Safety and Health.

Ceballos, D.M., Gong,W., Page, E., 2015. A pilot assessment of occupational health hazards in the US electronic scrap recycling industry. J. Occup. Environ. Hyg. 12, 482–488.

Chan, J.K.Y.,Wong,M.H., 2013. A review of environmental fate, body burdens, and human health risk assessment of pcdd/fs at two typical electronic waste recycling sites in China. Sci. Total Environ. 463, 1111–1123.

Deng, J., Guo, J., Zhou, X., Zhou, P., Fu, X., Zhang, W., et al., 2014. Hazardous substances in indoor dust emitted from waste TV recycling facility. Environ. Sci. Pollut. Res. 21, 7656–7667.

Elliott, B., Leif, D., 2006. Closed Cincinnati Firm Leaves Behind Major CRT Stockpile. (Available: http://resource-recycling.com/node/4694 [accessed Jan 08 2016]).

Elliott, B., 2016. Boom in ‘Smart’ Devices Could Wear Out Recycling Companies. (Available http://resource-recycling.com/node/7571 [accessed Jul 15 2016]).

Fang, W., Yang, Y., Xu, Z., 2013. PM10 and PM2.5 and health risk assessment for heavy metals in a typical factory for cathode ray tube television recycling. Environ. Sci.Technol. 47, 12469–12476.

Grant, K., Goldizen, F.C., Sly, P.D., Brune, M.N., Neira, M., van den Berg, M., et al., 2013.Health consequences of exposure to e-waste: a systematic review. The Lancet Global Health. 1, pp. e350–e361.

Guo, J., Lin, K., Deng, J., Fu, X., Xu, Z., 2015. Polybrominated diphenyl ethers in indoor air during waste TV recycling process. J. Hazard. Mater. 283, 439–446.

Heacock, M., Kelly, C.B., Asante, K.A., Birnbaum, L.S., Bergman, A.L., Bruné, M.-N., et al., 2016. E-Waste and Harm to Vulnerable Populations: A Growing Global Problem. Environmental Health Pespectives In press.

ISRI, 2016. The Scrap Recycling Industry: Electronics. (Available: http://www.isri.org/docs/default-source/commodities/fact-sheet—electronics.pdf [accessed March 10 2016]).

Julander, A., Lundgren, L., Skare, L., Grander, M., Palm, B., Vahter, M., et al., 2014. Formal recycling of e-waste leads to increased exposure to toxic metals: an occupational exposure study from Sweden. Environ. Int. 73, 243–251.

Jung, Y.H., Chang, T.-H., Zhang, H., Yao, C., Zheng, Q., Yang, V.W., et al., 2015. High-performance green flexible electronics based on biodegradable cellulose nanofibril paper.Nat. Commun. 6, 7170.

Kim, Y.H., Wyrzykowska-Ceradini, B., Touati, A., Krantz, Q.T., Dye, J.A., Linak, W.P., et al., 2015. Characterization of size-fractionated airborne particles inside an electronic waste recycling facility and acute toxicity testing in mice. Environ. Sci. Technol. 49, 11543–11550.

Kyere, V., Greve, K., Atiemo, S., 2016. Spatial assessment of soil contamination by heavy metals from informal e-waste recycling site in Agbogbloshie, Ghana. Environmental Health and Toxicology.

Lau,W.K.Y., Liang, P., Man, Y.B., Chung, S.S.,Wong, M.H., 2014. Human health risk assessment based on tracemetals in suspended air particulates, surface dust, and floor dust from e-waste recycling workshops in Hong Kong, China. Environ. Sci. Pollut. Res. 21, 3813–3825.

Lecler,M.T., Zimmermann, F., Silvente, E., Clerc, F., Chollot, A., Grosjean, J., 2015. Exposure to hazardous substances in cathode ray tube (CRT) recycling sites in France. Waste Manag. 39, 226–235 (New York, NY).

Li, Y., Duan, Y.-P., Huang, F., Yang, J., Xiang, N., Meng, X.-Z., et al., 2014. Polybrominated diphenyl ethers in e-waste: level and transfer in a typical e-waste recycling site in Shanghai, Eastern China. Waste Manag. 34, 1059–1065.

Ma, J., Kannan, K., Cheng, J., Hori, Y.,Wu, Q.,Wang,W., 2008. Concentrations, profiles, and estimated human exposures for polychlorinated dibenzo-p-dioxins and dibenzofurans from electronic waste recycling facilities and a chemical industrial complex in Eastern China. Environ. Sci. Technol. 42, 8252–8259.

Ma, J., Addink, R., Yun, S., Cheng, J., Wang, W., Kannan, K., 2009a. Polybrominated dibenzo-p-dioxins/dibenzofurans and polybrominated diphenyl ethers in soil, vegetation, workshop-floor dust, and electronic shredder residue from an electronic waste recycling facility and in soils from a chemical industrial complex in Eastern China. Environ. Sci. Technol. 43, 7350–7356.

Ma, J., Horii, Y., Cheng, J.,Wang,W.,Wu, Q., Ohura, T., et al., 2009b. Chlorinated and parent polycyclic aromatic hydrocarbons in environmental samples from an electronic waste recycling facility and a chemical industrial complex in China. Environ. Sci. Technol. 43, 643–649.

Matsukami, H., Nguyen Minh, T., Suzuki, G., Someya, M., Le Huu, T., Pham Hung, V., et al., 2015. Flame retardant emission from e-waste recycling operation in northern Vietnam: environmental occurrence of emerging organophosphorus esters used as alternatives for PBDEs. Sci. Total Environ. 514, 492–499.

Muenhor,D.,Harrad,S.,Ali,N.,Covaci,A.,2010. Brominated flame retardants (BFRs) in air and dust from electronic waste storage facilities in Thailand. Environ. Int. 36, 690–698.

Newman, N., Jones, C., Page, E., Ceballos, D., Oza, A., 2015. Investigation of childhood lead poisoning fromparental take-home exposure froman electronic scrap recycling facility - Ohio, 2012. Morb. Mortal. Wkly Rep. 64, 743–745.

NTP, 2012. Ntp Monograph on Health Effects of Low-Level Lead. National Institutes of Health, National Institute of Environmental Health Sciences, National Toxicology Program.

Page, E., Ceballos, D., Oza, A., Gong,W.,Mueller, C., 2015. Health Hazard Evaluation Report: Metal Exposures in an Electronic Scrap Recycling Facility. NIOSH HHE No. 2013-0067-3228. Cincinnati, OH:U.S. Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Institute for Occupational Safety and Health. <http://www.cdc.gov/niosh/hhe/reports/pdfs/2013-0067-3228.pdf>.

Page, E.H., Sylvain, D., 2009. Health Hazard Evaluation Report: exposure to Hazardous Metals During Electronics Recycling at Four Unicor Facilities. NIOSH HETA No.2008-0055-3098. Cincinnati, OH:U.S. Department of Health and Human Services, Centers for Disease Control and Prevention, National Institute for Occupational Safety and Health. <https://www.cdc.gov/niosh/hhe/reports/pdfs/2008-0055-3098.pdf>.

Pettersson-Julander, A., van Bavel, B., Engwall, M., Westberg, H., 2004. Personal air sampling and analysis of polybrominated diphenyl ethers and other bromine containing compounds at an electronic recycling facility in Sweden. J. Environ. Monit. 6, 874–880.

Portilla, L., Etschel, S.H., Tykwinski, R.R., Halik, M., 2015. Green processing of metal oxide core-shell nanoparticles as low-temperature dielectrics in organic thin-film transistors. Adv. Mater. 27, 5950–5954.

Powell, J., 2006a. AbandonedWarehouses Full of Crts Found in Several States. (Available: https://lamprecycling.veoliaes.com/newsletter/September2013/1 [accessed Jan 08 2016]).

Powell, J., 2006b. Updated: Abandoned Baltimore Warehouse is Full Of Crts. (Available: http://resource-recycling.com/node/4120 [accessed Jan 08 2016]).

Reh, C., Kang, R., Herrera-Moreno, V., 2001. Mercury exposures during the recycling/reclamation of household-type alkaline batteries. Appl. Occup. Environ. Hyg. 16, 993–1005.

Rosenberg, C., Hameila, M., Tornaeus, J., Sakkinen, K., Puttonen, K., Korpi, A., et al., 2011. Exposure to flame retardants in electronics recycling sites. Ann. Occup. Hyg. 55, 658–665.

Schecter, A., Colacino, J.A., Harris, T.R., Shah, N., Brummitt, S.I., 2009. A newly recognized occupational hazard for us electronic recycling facility workers: polybrominated diphenyl ethers. J. Occup. Environ. Med. 51, 435–440.

Sjodin, A., Hagmar, L., Klasson-Wehler, E., Kronholm-Diab, K., Jakobsson, E., Bergman, A., 1999. Flame retardant exposure: polybrominated diphenyl ethers in blood from swedish workers. Environ. Health Perspect. 107, 643–648.

Sjodin, A., Carlsson, H., Thuresson, K., Sjolin, S., Bergman, A., Ostman, C., 2001. Flame retardants in indoor air at an electronics recycling plant and at other work environments. Environ. Sci. Technol. 35, 448–454.

Song, Q., Li, J., 2014. Environmental effects of heavy metals derived from the e-waste recycling activities in China: a systematic review. Waste Manag. 34, 2587–2594.

Song, Q., Zeng, X., Li, J., Duan, H., Yuan, W., 2015. Environmental risk assessment of CRT and PCB workshops in a mobile e-waste recycling plant. Environ. Sci. Pollut. Res. 22, 12381–12388.

Standaert M. 2015. China's Notorious E-Waste Village Disappears Almost Overnight. (Available: http://www.bna.com/chinas-notorious-ewaste-n57982065266/[accessed Jan 08 2016]).

Tang, X., Shen, C., Shi, D., Cheema, S.A., Khan, M.I., Zhang, C., et al., 2010. Heavy metal and persistent organic compound contamination in soil from Wenling: an emerging e-waste recycling city in Taizhou area, China. J. Hazard. Mater. 173, 653–660.

Tomko, G.,McDonald, K.M., 2013. Environmental fate of hexabromocyclododecane froma new Canadian electronic recycling facility. J. Environ. Manage. 114, 324–327.

Tsydenova, O., Bengtsson, M., 2011. Chemical hazards associated with treatment of waste electrical and electronic equipment. Waste Manag. 31, 45–58.

EPA, U.S., 2011. Electronics Waste Management in the United States Through 2009. EPA 530-R-11-002, Office of Resource Conservation and Recovery, United States Environmental Protection Agency.

United Nations University, 2014. The Global E-Waste Monitor 2014: Quantities, Flows and Resources. (Available: http://i.unu.edu/media/unu.edu/news/52624/UNU-1stGlobal-E-Waste-Monitor-2014-small.pdf [accessed Jan 08 2016]).

Wang, Y., Hu, J., Lin,W.,Wang, N., Li, C., Luo, P., et al., 2016. Health risk assessment of migrant workers' exposure to polychlorinated biphenyls in air and dust in an e-waste recycling area in China: indication for a new wealth gap in environmental rights. Environ. Int. 87, 33–41.

Wu, Q., Leung, J.Y.S., Geng, X., Chen, S., Huang, X., Li, H., et al., 2015. Heavy metal contamination of soil and water in the vicinity of an abandoned e-waste recycling site: implications for dissemination of heavy metals. Sci. Total Environ. 506, 217–225.

Xing, G.H.,Wu, S.C.,Wong, M.H., 2010. Dietary exposure to pcbs based on food consumption survey and food basket analysis at Taizhou, China – the world's major site for recycling transformers. Chemosphere 81, 1239–1244.

Xue, M., Yang, Y., Ruan, J., Xu, Z., 2012. Assessment of noise and heavy metals (Cr, Cu, Cd, Pb) in the ambience of the production line for recycling waste printed circuit boards. Environ. Sci. Technol. 46, 494–499.

Yang, Y., Xue, M., Xu, Z., Huang, C., 2013. Health risk assessment of heavy metals (Cr, Ni, Cu, Zn, Cd, Pb) in circumjacent soil of a factory for recycling waste electrical and electronic equipment. Journal of Material Cycles and Waste Management 15, 556–563.

Zennegg, M., Schluep, M., Streicher-Porte,M., Lienemann, P., Haag, R., Gerecke, A.C., 2014. Formation of PBDD/F from PBDE in electronic waste in recycling processes and under simulated extruding conditions. Chemosphere 116, 34–39.

Zhang,Q.,Ye,J.,Chen,J.,Xu,H.,Wang,C.,Zhao,M.,2014. Risk assessment of polychlorinated biphenyls and heavy metals in soils of an abandoned e-waste site in China. Environ. Pollut. 185, 258–265.

Zimmermann, F., Lecler, M.-T., Clerc, F., Chollot, A., Silvente, E., Grosjean, J., 2014. Occupational exposure in the fluorescent lamp recycling sector in France. Waste Manag. 34, 1257–1263.

Biên dịch: Bình Nguyên


(Nguồn tin: http://www.sciencedirect.com/)