Đánh giá gánh nặng lao động qua các chỉ tiêu nặng nhọc và căng thẳng trong quá trình lao động của công nhân chế biến thủy sản khu vực miền Trung

15/11/2017

TÓM TẮT

Thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của khu vực miền Trung,đặc điểm lao động của ngành này là lao động thủ công, nặng nhọc, tiếp xúc với nhiều yếu tố độc hại. Các yếu tố nặng nhọc và căng trẳng trong lao động cùng với các yếu tố môi trường là những nguyên nhân khiến người lao động ở các cơ sở chế biến thủy sản mắc các bệnh nghề nghiệp. Kết quả đánh giá cho thấy 95,8% vị trí công việc ở các cơ sở chế biến thủy sản khảo sát được xếp ở mức lao động nặng nhọc; trong đó mức nặng nhọc loại 2 chiếm 89,6%. Chỉ 8,3% vị trí công việc được đánh giá ở mức căng thẳng cao, còn lại kết quả đánh giá căng thẳng lao động ở mức trung bình.


1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Vùng duyên hải miền Trung với chiều dài bờ biển khoảng hơn 1.000 km, biển khá sâu ở sát bờ, nhiều eo biển, cửa sông, vũng, vịnh thuận lợi cho việc phát triển ngành khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản. Trong những năm vừa qua, xuất khẩu thủy sản vùng duyên hải miền Trung đã có đóng góp rất lớn vào sự thành công của ngành thủy sản cả nước. Theo quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn giai đoạn 2016 – 2020, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung sẽ đầu tư thêm cơ sở chế biến đông lạnh với công suất 20 nghìn tấn sản phẩm/ năm và cơ sở chế biến thủy sản khô công suất khoảng 5 nghìn tấn/năm, tập trung đầu tư dây chuyền thiết bị chế biến sản phẩm giá trị gia tăng. Nâng công suất sử dụng thiết bị lên 90% và tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng đạt 60- 70%. [3]

Đặc điểm lao động trong ngành thủy sản là lao động thủ công, nặng nhọc, người lao động phải tiếp xúc với nhiều yếu tố độc hại dễ gây nên rủi ro, ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng.Số liệu đo đạc của các đề tài nghiên cứu ngành thủy sản khu vực miền Trung của Viện KH An toàn và Vệ sinh lao động cho thấy trên 90% vị trí đo đạc tại cơ sở chế biến thủy sản có độ ẩm cao, 80-90% vị trí có tốc độ lưu thông không khí thấp, hầu hết các vị trí làm việc người lao động đều phải tiếp xúc với các loại hóa chất tẩy rửa, môi trường lao động ẩm ướt. Công nhân lao động trong ngành này chiếm tới 83% là nữ. Trong suốt ca làm việc, các nữ công nhân phải đứng ở tư thế tĩnh liên tục suốt từ 8 giờ và thậm chí tới 12-14 giờ trong các tháng cao điểm của thời kỳ mùa vụ đánh bắt và chế biến thủy sản. Tư thế lao động này kéo dài suốt ca sản xuất, từ ngày này sang ngày khác khiến cho người laođộng cảm thấy mệt mỏi và đau nhức các bộ phận cơ thể. Các bệnh lý có tính chất nghề nghiệp hay gặp ở công nhân chế biến thủy sản là: bệnh tai mũi họng, bệnh da và hệ thống dưới da và bệnh về mắt, bệnh hệ thống cơ xương khớp và thần kinh. [1,2]

Trong nội dung bài báo này sẽ trình bày các số liệu khảo sát về các chỉ tiêu nặng nhọc và căng thẳng trong quá trình lao động của công nhân chế biến thủy sản khu vực miền Trung, thông qua đó để đánh giá gánh nặng lao động mà người lao động ngành thủy sản phải gánh chịu.


2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi đã thực hiện khảo sát ở 6 cơ sở chế biến thủy sản với tổng số 144 người lao động làm việc ở 8 bộ phận sản xuấtgồm tiếp nhận nguyên liệu, sơ chế, tinh chế &phân cỡ, cân xếp khuôn, cấp đông, tách khuôn, bao gói và bảo quản trong kho lạnh. 

2.2. Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang.

- Phương pháp nghiên cứu: Áp dụng phương pháp đánh giá điều kiện lao động theo các chỉ tiêu nặng nhọc và căng thẳng trong quá trình lao động của Cộng hòa Liên bang Nga, năm 2014.

- Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu: Các kỹ thuật đánh giá từng chỉ tiêu nặng nhọc và chỉ tiêu căng thẳng trong quá trình lao động.


3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả hoạt động của người lao động tại các công đoạn khảo sát

Kết quả khảo sát các 6 cơ sở chế biến thủy sản cho thấy tuy các cơ sở sản xuất các loại sản phẩm khác nhau như cá đông lạnh nguyên con, cá hấp, chả cá, cá tẩm bột, tôm đông lạnh… nhưng quy trình công nghệ của các cơ sở đều trải qua các công đoạn giống nhau như tiếp nhận nguyên liệu, sơ chế,tinh chế&phân cỡ, cân xếp khuôn, cấp đông,tách khuôn, bao gói và bảo quản trong kho lạnh. Đây là 8 công đoạn mà chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát, đánh giá gánh nặng lao động của người lao động.Mô tả công việc của người lao động ở các bộ phận này được trình bày ở bảng sau:


3.2. Kết quả đánh giá các chỉ tiêu nặng nhọc

Kết quả đánh giá các chỉ tiêu nặng nhọc của từng vị trí công việc ở từng bộ phận của các cơ sở chế biến thủy sản như sau:





Trong quá trình làm việc, người lao động ở các cơ sở thủy sản có tư thế lao động đứng là chủ yếu để thực hiện các công việc, việc di chuyển đi lại ở các bộ phận như sơ chế, tinh chế, phân cỡ, cân, xếp khuôn, tách khuôn và bao gói là rất ít. Các thao tác thực hiện công việc chủ yếu thủ công bằng tay ngoại trừ các một số bộ phận như tiếp nhận nguyên liệu, vận chuyển hàng bảo quản trong kho lạnh ở một số cơ sở có sử dụng xe vận chuyển.

Số liệu đánh giá cho thấy 46/48 vị trí công việc khảo sát có mức đánh giá gánh nặng lao động ở loại 3: mức độc hại (lao động nặng nhọc). Trong đó mức nặng nhọc loại 2 (3.2) chiếm tới 89,6%. Chỉ có 2/48 vị trí công việc khảo sát có mức đánh giá là gánh nặng thể lực trung bình (loại 2). Đa số các vị trí công việc ở tất cả các bộ phận ở cả 6 cơ sở đều được đánh giá lao động nặng nhọc là do trong quá trình thực hiện các thao tác, người lao động phải chịu đồng thời các gánh nặng tĩnh, số lượng cử động lặp lại trong ca nhiều và có tư thế lao động bất lợi (trên 80% thời gian lao động đứng trong ca). Ngoài ra ở một số vị trí công việc như tiếp nhận nguyên liệu và vận chuyển hàng trong kho lạnh, người lao động còn phải nâng nhấc và vận chuyển các rổ nguyên liệu và thùng sản phẩm có khối lượng tương đối lớn, số lần cúi thân trong ca nhiều. Trọng lượng trung bình cho một lần nâng nhấc của người lao động làkhoảng từ 7-10kg.

3.3. Kết quả đánh giá căng thẳng trong lao động

Đánh giá căng thẳng trong lao động của 6 cơ sở khảo sát thể hiện ở các bảng sau:




Người lao động ở tất cả các bộ phận thực hiện công việc thủ công là chủ yếu. Trong quá trình làm việc, họ không phải chịu các gánh nặng trí tuệ, mức độ phức tạp của các nhiệm vụ không lớn, gánh nặng giác quan và gánh nặng cảm xúc ở mức thấp. Tuy nhiên sự đơn điệu lại ở mức cao, do người lao động chỉ phải thực hiện các thao tác được lặp đi lặp lại nhiều lần. Với những ngày vào mùa, nguyên liệu nhiều hoặc những ngày phải sản xuất cho kịp theo đúng yêu cầu của khách hàng người lao động phải làm việc tăng ca với thời gian làm việc thực tế trong những ngày này thường lớn hơn 9 giờ/ngày.    

Hầu hết các vị trí công việc ở tất cả các bộ phận khảo sát ở các cơ sở chế biến thủy sản đều có kết quả đánh giá căng thẳng lao động ở mức cho phép (loại 2 – căng thẳng lao động mức trung bình). Chỉ có 4/48 vị trí khảo sát có mức căng thẳng cao (mức 3.1) chiếm 8,3%, và 4 vị trí công việc này ở 2 bộ phận là tiếp nhận nguyên liệu và cân xếp khuôn. Ở hai bộ phận này, người lao động thường phải tập trung để tuyển lựa các nguyên liệu tươi sống và các bán thành phẩm có tiêu chuẩn và kích thước đáp ứng các yêu cầu khắt khe của khách hàng. Chính những lý do này khiến cho người lao động dễ gặp căng thẳng, áp lực do công việc.

3.4. Tổng hợp kết quả đánh giá gánh nặng lao động


Tổng hợp đánh giá gánh nặng lao động thông qua hai chỉ tiêu nặng nhọc và căng thẳngcủa công nhân ở các bộ phận tại 6 cơ sở chế biến thủy sản được khảo sát cho thấy:

Chỉ có 02 vị trí công việc ở bộ phận tinh chế, phân cỡ của cơ sở Sơn Trà và bộ phận bao gói của cơ sở Thiên Mã được đánh giá ở mức trung bình chiếm 4,2%.

Tất cả các vị trí công việc còn lạiở các cơ sở đều được đánh giá ở mức nặng nhọc. Kết quả này là do đánh giá các chỉ tiêu nặng nhọc trong lao động hầu hết đều ở mức độc hại (mức 3.1 và 3.2).


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Số vị trí công việc trong các cơ sở chế biến thủy sản khảo sát được đánh giá gánh nặng lao động ở mức nặng nhọcchiếm tỷ lệ 95,8%, trong đó mức nặng nhọc loại 2 chiếm 89,6%.Một số bộ phận cần thực hiện ngay các biện pháp để giảm thiểu các rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động là kho lạnh, tách khuôn, cấp đông và tiếp nhận nguyên liệu. Đây là các bộ phận mà người lao động ngoài phải chịu tư thế lao động là đứng thì còn phải thực hiện việc nâng nhấc và vận chuyển các vật có khối lượng tương đối lớn, số lần cúi thân trong ca để thực hiện việc công việc nhiều. Các biện pháp giảm thiểu có thể áp dụng là sử dụng các phương tiện vận chuyển, nâng nhấc thay thế giúp người lao động không phải chịu tải trọng lớn trong quá trình làm việc. Phân chia thời gian làm việc, nghỉ ngơi hợp lý cũng là sẽ góp phần giảm thiểu rủi ro do gánh nặng nâng nhấc và tư thế lao động gây ra cho người lao động.

Căng thẳng trong quá trình lao động ở người lao động trong các cơ sở chế biến thủy sản đa số được đánh giá ở mức trung bình. Với những ngày vào mùa, lượng nguyên liệu nhập vào lớn và sản xuất tăng ca cho kịp đơn hàng, các cơ sở cần phải có các giải pháp phân chia ca, kíp và thời gian nghỉ giữa ca hợp lý nhằm đảm bảo sức khỏe cho người lao động. Với những công việc có mức căng thẳng cao (chiếm 8,3%), đây là những công việc liên quan đến  việc kiểm tra nguyên liệu và bán thành phẩm, cơ sở cần có các giải pháp như thiết kế bàn kiểm tra riêng biệt có cường độ ánh sáng đảm bảo nhằm giúp cho người lao động ở các bộ phận này thực hiện công việc dễ dàng hơn, giúp giảm áp lực trong quá trình thực hiện công việc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Trần Hải, Nghiên cứu điều tra, đánh giá và dự báo diễn biến điều kiện lao động trong một số ngành công nghiệp giai đoạn đến năm 2020, Mã đề tài: CTPH-2014/01/TLĐ-BKHCN, năm 2014.

2. Lê Quang Liêm, Lê Trọng Vũ, Phạm Ngọc Hải, Nguyễn Thế Trúc, Nghiên cứu đặc điểm môi trường lao động, cơ cấu bệnh tật và một số bệnh lý có tính chất nghề nghiệp của công nhân chế biến thủy sản đông lạnh tại Bình Định, Trường Cao đẳng Y tế Bình Định, 01/2007-01/2008.

3. Trang Sĩ Trung, Nguyễn Văn Minh, Huỳnh Long Quân, Phát triển ngành bảo quản, chế biến thủy sản vùng duyên hải miền Trung, Liên kết phát triển các tỉnh duyên hải miền Trung, Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, Trang 31-36.

Nguyễn Thị Thùy Trang

Phân viện BHLĐ & BVMT Miền Trung

(Nguồn tin: Vnniosh.vn)