MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG TẠI CÔNG TY CP SECPENTIN&PHÂN BÓN THANH HOÁ VÀ CÔNG TY CP CƠ KHÍ LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN

Thứ Sáu, 01/12/2023, 10:21 Sáng

ThS. Nguyễn Trinh Hương
KS. Trần Thanh Thuỷ và CS
Viện Nghiên cứu KHKT Bảo hộ Lao động

Trong khuôn khổ Dự án “Nâng cao năng lực nghiên cứu và thông tin về các bệnh nghề nghiệp liên quan đến amiăng” do AUSAID tài trợ, Dự án đã tiến hành điều tra về hiện trạng ô nhiễm môi trường, điều kiện làm việc và tình hình sức khoẻ của người lao động (NLĐ) tại hai công ty trong sản xuất có liên quan đến amiăng là Công ty CP Secpentin& Phân bón Thanh Hóa và Xí nghiệp Tấm lợp thuộc Công ty CP Cơ khí luyện kim Thái Nguyên.  Sau đây là một số kết quả điều tra, đánh giá về hiện trạng môi trường và sức khoẻ NLĐ tại hai đơn vị này.

A. CÔNG TY CP SECPENTIN&PHÂN BÓN THANH HOÁ

1. Hiện trạng môi trường tại Công ty CP Secpentin&Phân bón Thanh Hóa

Công ty CP Secpentin và Phân bón Thanh Hóa (tiền thân là Mỏ Secpentin Thanh Hóa) tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá có lĩnh vực hoạt động chính là khai thác và cung cấp quặng cho các nhà máy sản xuất phân lân nung chảy và sản xuất các loại phân NPK. Quặng secpentin của Công ty có chứa 36-42% SiO2, >33 – 36% MgO, ngoài ra là các thành phần khác như Fe2O3, Al2O3, H2O, v.v., trong đó có amiăng trắng.

Trong quá trình khai thác và chế biến quặng có phát sinh bụi, hơi khí độc, tiếng ồn, rung động, v.v. Bụi phát sinh ở hầu hết các công đoạn sản xuất. Bụi chủ yếu là bụi quặng có chứa amiăng và bụi đất đá lẫn trong quặng. Các số liệu khảo sát cho thấy nồng độ bụi hô hấp và bụi sợi amiăng của các mẫu đo đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, trừ nồng độ bụi hô hấp tại khu vực đóng bao máy nghiền 2.

Bảng 1. Nồng độ bụi hô hấp và bụi amiăng tại mỏ khai thác và phân xưởng nghiền

TT

Vị trí lấy mẫu

Bụi hô hấp

[mg/m3]

Bụi amiăng

[sợi/cm3]

1

Mỏ – khu vực máy khoan đục

1,584

0

2

Mỏ – khu vực máy xúc

0

3

Mỏ – khu vực đập quặng và bốc xếp

0,419

0,021

4

Mỏ – khu vực đập quặng cuối bãi

0,006

5

Nhà máy – khu vực nạp quặng máy nghiền 1*

0,409

0,052

6

Nhà máy – khu vực đóng bao máy nghiền 1*

1,140

0

7

Nhà máy – khu vực nạp quặng máy nghiền 2

1,718

0,037

8

Nhà máy – khu vực đóng bao máy nghiền 2

6,513

0,037

TCVSLĐ 3733-2002/QĐ-BYT

2**

0,5

Ghi chú: (*) Trong thời gian lấy mẫu, máy nghiền 1 hoạt động không liên tục.

(**) Lấy cho bụi hô hấp có hàm lượng SiO2 lớn hơn 20-50%, lấy mẫu theo thời điểm (Hàm lượng SiO2 trong bụi quặng có thể tạm lấy như trong quặng là 36-42%.

Hơi khí độc chủ yếu là các loại khí phát sinh khi đốt cháy nhiên liệu (CO, CO2, SO2, NOx, VOCs) cho máy xúc và các loại phương tiện giao thông vận tải, tuy nhiên mức độ phát thải của các loại khí này không nhiều, do đó mức độ ảnh hưởng không lớn. Quá trình nổ mìn gây nhiều tác động xấu, không những đến tài nguyên môi trường, các công trình xây dựng, sức khoẻ và sinh hoạt cộng đồng, mà còn ảnh hưởng đến NLĐ thường ở các khu vực lân cận trong thời gian nổ mìn. Hiện nay Công ty đã thay thế nổ mìn bằng các máy búa (máy đập) đối với các vỉa nhỏ, vỉa dễ khai thác để giảm thiểu tác động do nổ mìn. Tại thời điểm khảo sát không có hoạt động nổ mìn nên Dự án không xác định được các tác động cụ thể.

Tiếng ồn và rung động phát sinh từ các máy công nghệ, các phương tiện giao thông vận tải và khi nổ mìn. Các số liệu khảo sát tiếng ồn của Dự án tại Công ty CP Secpentin& Phân bón Thanh Hoá đã cho thấy các khu vực cạnh các máy nghiền quặng có tiếng ồn rất cao, vượt TCCP từ 16dBA đến gần 20dBA (Tiêu chuẩn vệ sinh lao động theo Quyết định 3733/2002/QĐ-BYT là 85dBA); trên mỏ chỉ có tại khu vực khoan tay có tiếng ồn cao, vượt TCCP 14dBA. Tất cả các giá trị rung động đo tại Công ty đều đạt TCCP.

Tại mỏ vẫn còn tồn tại một lực lượng lao động thủ công lớn, chủ yếu làm công việc nhặt và gánh những viên đá đã đạt tiêu chuẩn gom về từng đống ngay trên mỏ. Những công nhân này, ngoài việc phải chịu ảnh hưởng của những yếu tố độc hại kể trên, còn phải chịu một gánh nặng lao động lớn và những khắc nghiệt của điều kiện lao động ngoài trời. Ngoài ra, tại đây và tại khu vực đóng bao, tư thế lao động của họ có nhiều bất hợp lý như thường xuyên phải đứng, phải cúi xuống lấy bao, khênh hoặc kéo ra chỗ đổ bao, nâng lên và rũ bao. 



Sử dụng các máy búa (máy đập) để giảm thiểu tác động do nổ mìn

Cúi hoặc ngồi xổm để nạp liệu từ máy nghiền

2. Đánh giá tình hình sức khỏe bệnh tật của NLĐ – Công ty CP Secpentin và Phân bón Thanh Hóa

a. Sức khoẻ của NLĐ đánh giá thông qua hồi cứu số liệu

Phân loại sức khỏe

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Loại I

56

56

37

Loại II

181

166

106

Loại III

23

39

39

Loại IV

3

2

3

Loại V

0

0

1

Tổng

263

263

186


Bảng 2: Kết quả phân loại sức khỏe NLĐ  qua 3 năm (Đơn vị: người)

Biểu đồ 1: Kết quả phân loại sức khỏe NLĐ qua 3 năm

Kết quả phân loại sức khỏe trong 3 năm cho thấy NLĐ chủ yếu có sức khỏe loại II (loại tốt) chiếm > 50%, sau đó đến sức khỏe loại I (loại rất tốt) khoảng 20-21%. Sức khỏe loại V là loại rất yếu trong Công ty hầu như không có. Tuy nhiên, sức khỏe NLĐ trong Công ty đã có sự giảm sút. Tỷ lệ sức khỏe loại I, II giảm trong khi tỉ lệ sức khỏe loại III, IV và cả loại V tăng. Đặc biệt, năm 2009 có 1 NLĐ sức khỏe loại V trong khi năm 2007 và 2008 không có trường hợp nào.   

Biểu đồ 2: Tỉ lệ mắc bệnh của NLĐ qua kết quả khám lâm sàng

Kết quả khám lâm sàng từ năm 2007 đến năm 2009 cho thấy loại bệnh mà các cán bộ công nhân viên trong Công ty bị mắc nhiều nhất là các bệnh về mắt, tiếp đó là các bệnh về răng hàm mặt, bệnh huyết áp và các bệnh tai mũi họng. Bệnh ngoại khoa và bệnh về thần kinh mặc dù cũng có người bị mắc nhưng tỉ lệ mắc rất thấp chỉ từ 1-2%.

Biểu đồ 2 cho thấy tỷ lệ NLĐ bị mắc các bệnh ngày càng tăng. Ví dụ, các bệnh về mắt năm 2007 chỉ có 9% NLĐ khám bị mắc thì năm 2008 tăng lên 21% và năm 2009 tăng lên 23%. Hoặc các bệnh răng hàm mặt, năm 2007 mới chỉ có 3% số người đến khám bị mắc, nhưng đến năm 2008 tăng gấp hơn 4 lần lên 14% và năm 2009 tăng lên 19%. Trong tất cả các bệnh, chỉ có bệnh da liễu có tỷ lệ người bị mắc so với tổng số người đến khám trong năm 2009 giảm so với 2 năm trước, còn lại các bệnh khác năm 2009 đều có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn so với hai năm trước.

b. Sức khoẻ của NLĐ đánh giá thông qua điều tra xã hội học

Dự án đã tiến hành phỏng vấn 178 NLĐ, trong đó có 154 NLĐ trực tiếp tiếp xúc với bụi và 24 NLĐ gián tiếp.

Kết quả trả lời phỏng vấn về các triệu chứng bệnh mắc phải cho thấy có rất nhiều người bị mệt mỏi (65 người, chiếm 36,5 %), nhức đầu (67 người, chiếm 37,6%), sổ mũi (60 người, chiếm 33,7%) và đau họng. Tỷ lệ người bị đau họng chiếm cao nhất (48,9%). Ngoài ra các bệnh như ngạt mũi, đau dây thần kinh, ho có đờm, ho khan, đau vùng thắt lưng cũng có tỉ lệ NLĐ mắc cao (chiếm từ 20-30% số người được phỏng vấn), v.v.

Số lượng lao động bị mắc các bệnh mãn tính ghi trong Bảng 3. Các bệnh bị mắc nhiều là bệnh hô hấp, tiêu hóa và tim mạch, là những bệnh có liên quan nhiều đến ô nhiễm môi trường.

Bảng 3: Số lượng lao động bị mắc các bệnh mãn tính

TT

Bệnh và triệu chứng bệnh

Số người mắc

1

Bệnh về hô hấp (Ho có đờm hoặc trong đờm có máu)

10

2

Bệnh về tiêu hóa (Đau dạ dày, tá tràng, viêm đại tràng mãn tính)

10

3

Bệnh về tim mạch (Cao huyết áp, bệnh tim mãn tính)

6

4

Bệnh về thần kinh

0

5

Bệnh về tiết niệu (Nhiễm trùng tiết niệu, viêm thận mãn tính)

4

6

Bệnh về nội tiết (Bướu cổ, đái đường, gút)

5

7

Các bệnh khối u (U lành tính)

2

8

Bệnh về máu (Thiếu máu)

1

9

Bệnh sinh dục

0

10

Khác

0

Trong 5 qua đã có 56 người trong số những người phỏng vấn phải đến bệnh viện khám và điều trị một số bệnh như bệnh tiêu hóa; bệnh về tai mũi họng; bệnh về mắt; bệnh về thần kinh; bệnh về xương khớp; bệnh phụ khoa và một số tổn thương khác,…Trong số 56 người đến khám bệnh thì có 26 người phải nằm viện, chủ yếu là bệnh viện huyện và bệnh viện thành phố. Thời gian nằm viện tương đối lâu, người ít nhất khoảng 8 ngày, người nhiều nhất là 2 tháng.

3. Phương án hút lọc bụi cho máy nghiền quặng Secpentin

Để xử lý ô nhiễm bụi máy nghiền quặng Secpentin, nhà máy đã lắp đặt một hệ thống hút và lọc bụi tại 2 máy nghiền bi. Chụp hút được bố trí tại 2 vị trí cấp và xả liệu của mỗi máy nghiền. Hệ thống lọc bụi được thiết kế và lắp đặt là thiết bị lọc bụi 2 cấp. Thiết bị lọc cấp 1 là loại xiclon chùm gồm 4 chiếc, mỗi chiếc đường kính D450mm. Thiết bị lọc bụi cấp 2 là buồng phun rỗng. Lưu lượng xử lý của hệ thống là 4000-5000m3/h.

Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, một số đường ống hút bụi đã bị thủng dẫn đến hiệu quả hút bụi giảm. Thiết bị lọc bụi cấp 1 không có van xả bụi tại đáy của buồng lắng bụi dẫn đến làm giảm hiệu quả lọc bụi do ảnh hưởng của các dòng khí rò rỉ qua buồng lắng. Thiết bị lọc bụi ướt cấp 2 hiện nay không còn tác dụng lọc vì hệ thống cấp nước không hoạt động. Vì vậy hiệu quả thu bắt và lọc bụi của hệ thống giảm xuống gây ảnh hưởng đến NLĐ và làm ô nhiễm môi trường không khí xung quanh.

Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động đề xuất phương án cải tạo nâng cao hiệu quả thu bắt và lọc bụi như sau:

Tổ chức làm vệ sinh đường ống hút, hàn gắn làm kín tại những vị trí như mặt bích, những chỗ thủng trên đường ống để ngăn rò rỉ. Làm vệ sinh và bảo dưỡng toàn bộ quạt và thiết bị lọc bụi. Đối với thiết bị lọc bụi cấp1, chế tạo và lắp bổ sung van xả bụi tự động liên tục kiểu van sao 5 cánh. Van xả bụi được điều khiển bởi động cơ giảm tốc có tốc độ hoạt động 30 vòng/phút, công suất 0,75kw. Phục hồi và sửa chữa thiết bị lọc bụi cấp 2 bao gồm sửa chữa hệ thống cấp nước, làm vệ sinh bể tuần hoàn, hệ thống ống cấp và thoát nước. (Xem bản vẽ)

Thông số kỹ thuật chính của hệ thống:

–         Lưu lượng hút:                 4500-5000 m3/h

–         Áp suất quạt hút:             200-250 mm H2O

–         Công suất động cơ:        5,5 kw

–         Tốc độ quay động cơ:    2850 vòng/phút

–         Kiểu thiết bị lọc:   Lọc bụi 2 cấp

Cấp 1: chùm 4 xiclon khô D450

Cấp 2: Buồng phun rỗng kích thước 900*900 mm

–         Hiệu suất lọc:                   95%

B. XÍ NGHIỆP TẤM LỢP – CÔNG TY CP CƠ KHÍ LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN

Xí nghiệp Tấm lợp thuộc Công ty CP Cơ khí Luyện kim Thái Nguyên, có công suất 5,4 triệu m2/năm. Xí nghiệp đã nằm trong danh sách các doanh nghiệp phải xử lý triệt để ô nhiễm trong giai đoạn 2003-2006. Trong những năm vừa qua, Xí nghiệp đã đầu tư dây chuyền công nghệ mới đi kèm các hệ thống xử lý chất thải (khí, nước và chất thải rắn) nên môi trường lao động đã được cải thiện rất nhiều, tuy nhiên khu vực máy nghiền tái chế phế liệu vẫn là công nghệ cũ, gây bụi (trong đó có amiăng) và tiếng ồn rất lớn.

1. Hiện trạng môi trường tại Xí nghiệp Tấm lợp

Trong sản xuất tấm lợp AC, bụi chủ yếu phát sinh từ các công đoạn xé bao, nghiền trộn và vận chuyển. Bụi chủ yếu là bụi amiăng, xi măng và bột giấy. Các mẫu bụi được lấy tại các khu vực làm việc của dây chuyền mới (trừ khu vực nghiền phế liệu), tuy nhiên tại khu vực nghiền sợi amiăng nguyên liệu và phối trộn, nồng độ bụi hô hấp vẫn vượt TCCP. Đối với bụi sợi amăng, chỉ có tại khu vực nghiền phế liệu có giá trị vượt TCCP. Công ty CP Cơ khí luyện kim Thái Nguyên cần có ngay giải pháp xử lý bụi tại khu vực này để đảm bảo sức khỏe NLĐ.

Bảng 4. Nồng độ bụi hô hấp và bụi amiăng tại Xí nghiệp tấm lợp

TT

Vị trí lấy mẫu

Bụi hô hấp

[mg/m3]

Bụi amiăng

[sợi/cm3]

1

Khu vực nghiền sợi amiăng nguyên liệu

3,264