Nghiên cứu đánh giá hiện trạng an toàn lao động trong sử dụng máy, thiết bị cơ điện nông nghiệp ở các tỉnh phía nam, đề xuất một số giải pháp góp phần giảm thiểu tai nạn lao động.

Thứ Sáu, 01/12/2023, 10:23(GMT +7)

Lao động nông nghiệp là một trong số những đối tượng có nguy cơ bị TNLĐ cao nhất và đang ở mức báo động, chỉ đứng sau ngành xây dựng, hóa chất và khai thác mỏ. Có nhiều nguyên nhân khiến cho tình trạng TNLĐ trong nông nghiệp ngày một tăng, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do người nông dân thiếu hiểu biết về ATVSLĐ và chưa ý thức trong việc chấp hành thực hiện các quy định về AT,VSLĐ.

Tóm tắt

Khảo sát thực trạng sử dụng máy móc thiết bị cơ điện nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam, chúng tôi tiến hành điều tra ngẫu nhiên 526 hộ (tại 5 tỉnh: Tây ninh, Đồng nai, Tiền giang, Đồng tháp, An giang) có sử dụng máy móc thiết bị cơ điện trong sản xuất nông nghiệp. Tổng số thiết bị ghi nhận được là: 228 máy cày các loại, 224 máy gặt đập liên hợp, 149 máy bơm nước, 125 máy xới, và một số máy khác. Sau khi phân tích những thông tin nhận được, chúng tôi đã đưa ra các nhận xét, đánh giá về người lao động, máy móc sử dụng chủ yếu, loại hình tai nạn thường gặp phải. Trong thực tế, các loại hình sản xuất và máy móc sử dụng rất đa dạng, vì vậy chúng tôi chọn ra 3 khâu cơ bản trong sản xuất nông nghiệp và máy móc chính phục vụ cho các khâu này đó là: khâu làm đất, khâu chăm sóc và khâu thu hoạch.

Qua số liệu thu thập, chúng tôi đã xem xét, tìm ra các dạng tai nạn chính. Sau đó, Đề tài tiến hành phân tích những nguyên nhân về công tác tổ chức, về máy móc, thiết bị và con người. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu những rủi ro cho người lao động trong phạm vi nghiên cứu. Các giải pháp này đồng bộ trên các mặt: quản lý, tổ chức, triển khai thực hiện; các giải pháp kỹ thuật và những khuyến nghị liên quan đến người lao động.

Ngoài ra, chúng tôi đã áp dụng trực tiếp một giải pháp giảm thiểu tai nạn điện trong sử dụng máy móc thiết bị một pha (là thiết bị điện sử dụng phổ biến trong nông nghiệp). Loại Thiết bị này được thiết kế để bảo vệ người sử dụng thiết bị điện khi thiết bị sử dụng điện có dòng điện rò lớn hơn 20mA và có khả năng cung cấp dòng vào cho thiết bị lớn (vài chục ampere) Với giá thành chỉ bằng 1/2 so với thiết bị ngoại nhập cùng loại, đây là giải pháp có tính khả thi cao.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề an toàn lao động (ATLĐ), vệ sinh lao động (VSLĐ) trong sản xuất nông nghiệp đã được Nhà nước và các ngành hữu quan đề cập từ lâu và trong những năm gần đây, đặc biệt khi nông nghiệp chứng tỏ được sự đóng góp không nhỏ của mình vào công cuộc phát triển đất nước đã nhận được sự quan tâm hơn của các ban, ngành chức năng, các tổ chức, đoàn thể xã hội; Tuy nhiên, sự quan tâm ấy chưa đem lại hiệu quả thực sự đối với công tác ATLĐ, VSLĐ cho người lao động (NLĐ) ở lĩnh vực nông nghiệp. Những nguy cơ mất an toàn khi sử dụng máy móc thiết bị vẫn chưa được đẩy lùi, các yếu tố có hại trong lĩnh vực này vẫn hiển hiện.

Theo Cục An toàn Lao động (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), so với các ngành nghề khác thì lao động nông nghiệp là một trong số những đối tượng có nguy cơ bị TNLĐ cao nhất và đang ở mức báo động, chỉ đứng sau ngành xây dựng, hóa chất và khai thác mỏ.

Báo cáo từ Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội chỉ rõ, cứ 100.000 lao động nông thôn thì có 799 bị tai nạn về điện; 856 người bị tai nạn do sử dụng máy móc; 1.700 người bị ảnh hưởng sức khỏe do thuốc bảo vệ thực vật. Kết quả từ nghiên cứu về “Thực trạng tai nạn thương tích (TNTT) trong lao động nông nghiệp” của ThS. Nguyễn Thúy Quỳnh (2011) tại 4 tỉnh Thái bình, Đồng tháp, Thái nguyên, Đắc lắc cho thấy tần suất TNTT không tử vong chung trong lao động sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam khoảng 24 người/1.000 người/năm. So sánh nguy cơ tai nạn thương tích trong các ngành nghề khác, người nông dân là đối tượng có nguy cơ tai nạn thương tích đứng thứ 2. Những con số này cho thấy tai nạn thương tích trong nông nghiệp hiện nay đang rất cần được quan tâm.

Có nhiều nguyên nhân khiến cho tình trạng TNLĐ trong nông nghiệp ngày một tăng, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do người nông dân thiếu hiểu biết về ATVSLĐ và chưa ý thức trong việc chấp hành thực hiện các quy định về AT,VSLĐ. Mặt khác, hầu hết nông dân hiện nay đều hổng kiến thức, kỹ năng sử dụng máy nông nghiệp, sử dụng theo kiểu “nghề dạy nghề”, vì thế việc xảy ra các tai nạn là khótránh khỏi.

Vấn đề ATVSLĐ trong nông nghiệp không thể giải quyết trong “một sớm, một chiều”, nhưng cần có sự quan tâm đúng mức của cơ quan quản lý Nhà nước ở các cấp, tổ chức chuyên môn, cơ quan, ban, ngành chức năng từ trung ương đến địa phương để từng bước tăng cường sự đảm bảo ATLĐ,VSLĐ cho người lao động trong lĩnh vực này.

II. MỤC TIÊU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

– Đánh giá được thực trạng an toàn lao động trong sử dụng máy, thiết bị cơ điện trong sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam.

– Đề xuất được một số giải pháp khả thi góp phần giảm thiểu tai nạn lao động trong sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam.

2.2. Nội dung nghiên cứu

– Nghiên cứu tổng quan tình hình, thực trạng sử dụng các loại máy móc, thiết bị, công cụ cơ điện trong sản xuất và phục vụ sản xuất ở một số ngành sản xuất phổ biến ở các tỉnh phía Nam

– Nghiên cứu nhận diện các mối nguy hiểm, nguy cơ mất an toàn từ máy móc thiết bị đang sử dụng ở các tỉnh phía Nam

– Điều tra đánh giá tình hình tai nạn lao động do máy, thiết bị cơ điện nông nghiệp trong sản xuất gây ra, phân tích nguyên nhân gây tai nạn (các thông số, chỉ tiêu an toàn, cơ cấu an toàn, trình độ, kỹ năng người sử dụng…)

– Đề xuất một số giải pháp quản lý, kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn, giảm thiểu TNLĐ cho người sử dụng máy móc, thiết bị cơ điện nông nghiệp.

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Nhận diện các mối nguy hiểm

So sánh các mối nguy hiểm xảy ra trong quá trình sử dụng thiết bị cơ điện trên thực tế với Tiêu chuẩn an toàn cho một số máy như đã viện dẫn cho thấy việc đưa tiêu chuẩn vào áp dụng với thực tế sử dụng máy móc còn một khoảng cách khá lớn.

Qua khảo sát, chúng tôi đã phát hiện: Có những mối nguy hiểm từ bản thân của thiết bị (lưỡi cắt của máy cắt, lưỡi cắt của máy gặt xếp dãy….). Việc giảm thiểu nguy cơ đâm, cắt hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ hiểu biết và thực hành làm việc an toàn của người lao động đối với từng thiết bị.

3.2. Kết quả khảo sát

Tiến hành khảo sát 526 hộ sản xuất nông nghiệp có sử dụng máy móc thiết bị cơ điện trong sản xuất  nông nghiệp, chúng tôi đã thống kê các loại máy mỗi hộ đang sử dụng và các dạng tai nạn thường gặp trong quá trình sử dụng các loại thiết bị này; thông tin về người sử dụng để đánh giá khái quát về thực trạng an toàn lao động trong sản xuất nông nghiệp ở một số khâu như đã đề cập ở trên.

Số liệu thống kê theo phiếu như sau:

Qua số lượng phiếu khảo sát trên chúng tôi phân làm 4 nhóm máy móc thiết bị và các loại tai nạn thường gặp tương ứng như sau:

Nhận xét chung:

  1. Người điều khiển thiết bị đa số ở độ tuổi lao động (> 18 tuổi), trong đó chỉ có 16% được đào tạo về nghề nghiệp và 28% có nghe nói (chưa phải huấn luyện) về an toàn lao động khi làm việc với máy móc thiết bị.
  2. Máy móc thiết bị: máy, thiết bị thuộc nhóm cơ khí như cày, bừa, xới, liên hợp gặt đập, tai nạn do vật văng bắn, đâm cắt, té ngã có tỉ lệ cao.
  3. Một số bộ phận quay không thể che chắn được.Vì vậy khó kiểm soát các vật văng bắn do các chuyển động quay của các bộ phận làm việc khi vận hành.
  4. Nhóm máy cơ khí này các bộ phận làm việc hở thông thường là sắc (dao cắt, đĩa cắt, lưỡi phay…) và nhọn (mũi rẽ lúa, răng bừa…) nên tai nạn do đâm, cắt có  tỉ lệ cao.
  5. Tai nạn do té, ngã: có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng trong vận hành thông thường người điều khiển không kiểm soát được máy (với loại cày, xới hai bánh). Xảy ra té ngã do trượt chân khi lên xuống máy kéo, té ngã do tập trung vào năng suất lơ là khâu an toàn (người phụ gom lúa trên máy gặt đập liên hợp…)
  6. Máy bơm nước: Máy bơm nước của các hộ sản xuất thường sử dụng máy bơm điện. Tai nạn chủ yếu ở đây là điện giật và té ngã. Máy bơm sử dụng thường không cố định mà di chuyển theo yêu cầu canh tác, vụ mùa. Do di chuyển trong môi trường làm việc không thuận lợi nên vỏ cách điện của dây dẫn hay hư hỏng hoặc té ngã do mặt bằng làm việc trơn trượt đều dẫn đến tai nạn.
  7. Máy phun thuốc bảo vệ thực vật: Nguy hại đem tới chính là do thuốc văng bắn vào người, ngộ độc khi phun. Té ngã cũng có tỉ lệ cao là do khi phun thuốc, người lao động thường phải mang thiết bị nặng và do chú ý đến việc phun thuốc mà quên quan sát mặt đất nên thường vấp ngã.

3.3. Bàn luận

Chúng tôi chọn vấn đề hẹp, cụ thể, chỉ đánh giá hiện trạng an toàn lao động trong sử dụng máy, thiết bị cơ điện nông nghiệp phục vụ sản xuất lúa ở các khâu làm đất, chăm sóc và thu hoạch tại 5 tỉnh khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long thông qua khảo sát 526 hộ sản xuất nông nghiệp có sử dụng máy móc thiết bị cơ điện gồm 13 loại máy, thiết bị, tổng cộng 1064 máy móc, thiết bị. Thông tin thu thập gồm: các thông số người điều khiển máy, thiết bị (độ tuổi, đào tạo nghề, hiểu biết về an toàn); Các nguyên nhân dẫn tới tai nạn lao động.

Phân tích các số liệu khảo sát, chúng tôi thấy có 3 nhóm nguyên nhân là các yếu tố chính dẫn tới các tai nạn lao động là:

a) Yếu tố con người

Các vấn đề liên quan tới người lao động điều khiển thiết bị máy móc: sức khỏe, tay nghề (trình độ, sự am hiểu về sử dụng máy móc thiết bị), tuổi nghề, kiến thức về an toàn lao động trong sử dụng máy móc thiết bị.

Chúng tôi chọn 2 thông số để đánh giá khả năng gây tai nạn lao động trong sử dụng máy, thiết bị do người lao động:

– Người sử dụng thiết bị, máy có hiểu biết về an toàn:  28,2%

– Người sử dụng thiết bị, máy chưa hiểu biết về an toàn: 71,8%

b) Yếu tố máy, thiết bị

Đề tài đã thực hiện khảo sát thống kê 526 hộ sản xuất nông nghiệp có sử dụng máy, thiết bị cơ điện trong sản xuất và phát hiện ra các dạng tai nạn thường gặp khi sử dụng các loại máy, chủ yếu là: đâm cắt, vật văng bắn, té ngã, điện giật, ngộ độc.

c) Yếu tố môi trường sử dụng:

Với 3 nhóm nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động như trình bày ở trên, khi biết được khả năng của mỗi nhóm có thể dẫn tới tai nạn lao động, chúng tôi đã dùng phép cộng xác suất để tính được mức độ, khả năng có thể dẫn tới tai nạn lao động.

Ba nguyên nhân có thể dẫn tới tai nạn lao động một cách độc lập song có lúc cùng một lúc đến 3 nguyên nhân trùng hợp hoặc 2 hoặc cả 3 nên nếu lấy biểu thức từ khả năng dẫn tới tai nạn lao động của 3 nguyên nhân trên là P1, P2, P3 ta có khả năng chung dẫn đến tai nạn lao động là Pc.

Tuy nhiên để định lượng theo các thông số này, đề tài không đủ dữ liệu để thực hiện nên chúng tôi lựa chọn một phương pháp đánh giá định tính với ma trận hai chiều trên cơ sở của con người và máy móc, thiết bị; yếu tố môi trường lao động không tính đến cho bất cứ trường hợp nào. Ma trận hai chiều được thiết kế với:

– Cột của ma trận là yếu tố con người mà đại diện là % số người khảo sát về việc đào tạo, huấn luyện an toàn lao động khi sử dụng thiết bị, máy móc.

– Hàng của ma trận là tỉ lệ loại hình tai nạn lao động chung gặp phải khi làm việc với máy móc, thiết bị.

Với cách định tính như trên có thể xem thực trạng lao động với máy, thiết bị cơ điện ở một số ngành của sản xuất nông nghiệp còn phải đầu tư nhiều vì chưa an toàn.

IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Thông qua khảo sát và đánh giá thực trạng an toàn lao động trong sử dụng máy móc, thiết bị cơ điện nông nghiệp, nhóm nghiên cứu đã tìm được một số nguyên nhân chính dãn đến tai nạn trong sử dụng máy, thiết bị phục vụ nông nghiệp và xây dựng một số giải pháp cụ thể về quản lý, kỹ thuật góp phần vào công tác tuyên truyền, ứng dụng các giải pháp này cho đối tượng là người lao động trực tiếp với máy móc sử dụng trong nông nghiệp nhằm giảm thiểu tai nạn lao động trong thời gian tới.

Ngoài ra trong giải pháp kỹ thuật, nhóm nghiên cứu đã đề xuất ứng dụng thiết bị ngắt dòng điện cung cấp cho thiết bị sử dụng điện một pha khi có sự cố rò điện với dòng điện rò ≥ 20mA. Thiết bị được thử nghiệm trong phòng thí nghiệm và vận hành tin cậy.

Qua đây chúng tôi cũng kiến nghị các cấp, các ngành cần quan tâm hơn nữa tới việc giúp người lao động nông nghiệp được tập huấn các kiến thức về an toàn trong sử dụng máy, thiết bị để giúp họ làm việc an toàn hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

[1]. Trần Đức Dũng chủ biên , Giáo trình Máy và Thiết bị Nông nghiệp – Tập I; NXB Hà nội – 2005.

[2]. Trần Văn Trinh, Báo cáo tổng kết đề tài:’Nghiên cứu các giải pháp bảo hộ lao động nông nghiệp và xác định các điều kiện khả thi ứng dụng chúng vào hoạt động sản xuất tại nông trường Sông Hậu – Cần thơ” Mã số 96/53/VBH/PV – 2003.

[3]. Tôn Thất Khải, Tsuyoshi Kawakami, Chương trình đào tạo về điều kiện an toàn, sức khỏe và lao động trong nông nghiệp. ILO/JAPAN Multibilateral Programme – 2002

[4]. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Kết quả nghiên cứu KH và CN nông nghiệp 2006-2007 các tỉnh đồng bằng sông Cửu long và Đông Nam bộ. TP.HCM 10/2007.

[5]. Chỉ thị số 20/2004/CT-TTg ngày 08/6/2004  Về việc tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện An toàn – Vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp

[6]. Thông tư số 46/2013/TT-BNNPTNT về Ban hành kỹ năng nghề Quốc gia đối với các nghề thuộc nhóm nghề nông nghiệp.

[7]. Viện N/C Khoa học Kỹ thuật Bảo Hộ Lao Động,  Kỷ yếu các công trình khoa học (1971-2011). Hà nội tháng  7/2011.

[8]. Viện N/C Khoa học Kỹ thuật Bảo Hộ Lao Động,  Tập hướng dẫn Một số biện pháp cải thiện môi trường sống và điều kiện làm việc cho người  lao động nông nghiệp, NXB Lao động – 2003.

[9]. Tạp chí Bảo hộ Lao động số 12/2011 trang 51-52, số 8/2013 trang 47-50

[10]. Tiêu Chuẩn Việt Nam: TCVN 6818-1-2010 – Máy Nông Nghiệp – An toàn Phần 1. Yêu cầu chung (1 – 5).

[11]. Tiêu Chuẩn Việt Nam: TCVN 6818-8-2010 – Máy Nông Nghiệp – An toàn Phần 9. (1 – 3).

[12]. Tiêu Chuẩn Việt Nam: TCVN 6818-9-2010 – Máy Nông Nghiệp – An toàn Phần 9. (1 – 3).

[13]. Tiêu Chuẩn Việt Nam: TCVN 6818-10-2010 – Máy Nông Nghiệp – An toàn Phần 10. Máy giũ và máy cào kiểu quay.

[14]. Tiêu Chuẩn Việt Nam: TCVN 6818-5-2010 – Máy Nông Nghiệp – An toàn Phần 5. Máy làm đất dẫn động bằng động cơ.

[15]. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 9195:2012 Máy nông nghiện –Che chắn cho các bộ phận chuyển động truyền công suất – Mở che chắn không cần dụng cụ.

TS. Nguyễn Đắc Hiền

   Phân viện BHLĐ và BVMT miền Nam


(Nguồn tin: Nilp.vn)