Quy trình phân hủy thuốc bảo vệ thực vật tại chỗ bằng phương pháp hóa học kết hợp sinh học

Thứ Sáu, 01/12/2023, 10:42(GMT +7)

Tóm tắt
Các quá trình oxi hóa nâng cao là những quá trình phân hủy oxi hóa dựa vào gốc tự do hoạt động hydroxyl *HO được tạo ra ngay trong quá trình xử lý.

Nhờ ưu thế nổi bật trong việc loại bỏ chất ô nhiễm hữu cơ, đặc biệt là những chất hữu cơ khó phân hủy sinh học (POP) quá trình oxi hóa nâng cao dựa trên gốc tự do *HO được xem như một “chìa khóa vàng” để giải các bài toán đầy thách thức của thế kỷ cho ngành xử lý nước và nước thải hiện nay. Xử lý sinh học nước thải sau các quá trình oxy hóa nâng cao bằng bùn hoạt tính đưa giá trị BOD hoặc COD thấp sẽ giúp quá trình xử lý đáp ứng tiêu chuẩn xả thải với thời gian xử lý không quá dài.

I. Mở đầu

Sản lượng lương thực có hạt năm 2010 ước tính đạt gần 44,6 triệu tấn, vượt 4,6 triệu tấn so với mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế -xã hội thời kỳ 2001-2010 và tăng trên 10 triệu tấn so với năm 2000, trong đó lúa đạt gần 40 triệu tấn, tăng trên 7,4 triệu tấn; ngô 4,6 triệu tấn, tăng 2,6 triệu tấn. Lương thực sản xuất ra không những vừa đủ tiêu dùng trong nước, vừa tiếp tục củng cố và giữ vững an ninh lương thực, mà còn cho phép nước ta xuất khẩu mỗi năm 5 – 6 triệu tấn gạo.

Đạt được thành tựu trong sản xuất lương thực đó có sự đóng góp không nhỏ của việc sử dụng hóa chất nông nghiệp, trong đó có thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Do nhu cầu sử dụng thuốc BVTV tăng, các cơ sở kinh doanh, buôn bán mặt hàng thuốc BVTV cũng ngày càng gia tăng. Mặc dù BVTV là một mặt hàng kinh doanh có điều kiện nhưng không phải cơ sở  nào cũng có đầy đủ các điều kiện như quy định. Kết quả thanh tra 14.570 lượt cửa hàng, đại lý kinh doanh thuốc BVTV năm 2006 cho thấy có 14,8% vi phạm các quy định về kinh doanh thuốc BVTV.

Hầu hết các loại thuốc BVTV sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam đều nhập khẩu từ nước ngoài. Hiện tượng nhập lậu các loại thuốc BVTV (bao gồm cả thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc hạn chế sử dụng) đang là vấn đề chưa thể kiểm soát nổi. Hàng năm vẫn có một khối lượng lớn thuốc BVTV nhập lậu vào nước ta; tình trạng các thuốc BVTV tồn đọng không sử dụng, nhập lậu bị thu giữ đang ngày càng tăng lên về số lượng và chủng loại. Để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường, bài viết đề cập đến quy trình phân hủy thuốc BVTV tại chỗ bằng phương pháp hóa học kết hợp sinh học.

II. Phương pháp nghiên cứu.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng một mô hình công nghệ tạo ra gốc hydroxyl *HO được tạo ra ngay trong quá trình xử lý kết hợp với lọc bùn hoạt tính để xử lý nước nước chứa thuốc BVTV bằng các phương pháp nghiên cứu sau:

– Nghiên cứu lý thuyết và thử nghiệm trong phòng thí nghiệm.

– Phân tích COD và hoạt chất BVTV trong nước.

III. Kết quả nghiên cứu.

Thuốc BVTV sử dụng trong nghiên cứu này gồm các loại thuốc BVTV nhóm lân hữu cơ (đại diện là Maxfos) và cacbamat (đại diện là Bascide).

3.1. Phân hủy thuốc BVTV bằng dung dịch kiềm nóng có xúc tác

Thuốc BVTV được phân hủy trong dung dịch kiềm nóng ở nhiệt độ 800C, khuấy kiên tục trong quá trình phân hủy. Trong trường hợp phân hủy có xúc tác, sử dụng phoi sắt và đồng làm xúc tác. Sau quá trình phân hủy kéo dài  50 phút, các mẫu được hòa tan trong nước và mức độ phân hủy thuốc BVTV được biểu thị bằng mức suy giảm giảm COD của nước. Kết quả phân hủy thuốc BVTV trong điều kiện không và có xúc tác được dẫn ra trong bảng 1.

Kết quả dẫn ra trong bảng 1 cho thấy hiệu suất giảm COD của các loại thuốc BVTV ở bước thủy phân kiềm nóng rất khác nhau, trong đó hiệu suất giảm COD của hợp chất cacbamat (Bascide) trong môi trường kiềm nóng không xúc tác rất nhỏ với hiệu suất giảm 4,5% trong khi hiệu suất giảm COD của hợp chất lân hữu cơ (Maxfos) đạt tới hơn 57%. Kết quả suy giảm COD của các hỗn hợp thuốc BVTV- nước trong môi trường phân hủy có xúc tác là hỗn hợp mạt đồng và sắt tăng lên đáng kể, trong đó mức suy giảm COD của hợp chất cacbamat (Bascide) tăng lên trên 36%, còn của hợp chất lân hữu cơ (Maxfos) lên tới 94,5%. Có thể nhận thấy hợp chất lân hữu cơ (Maxfos) dễ bị phân hủy trong môi trường kiềm nóng hơn hơn của hợp chất cacbamat (Bascide), đồng thời có thể nhận thấy hiệu quả đáng kể của quá trình phân hủy các loại thuốc BVTV trong môi trường có xúc tác Cu/Fe.

3.2. Phân hủy thuốc BVTV trong nước bằng oxy hóa nâng cao

Áp dụng phương pháp quy hoạch thực nghiêm trong nghiên cứu, quá trình làm giảm COD của nước chứa thuốc BVTV được thực hiện qua hai bước:

Bước 1: Áp dụng phương pháp Fenton với tác nhân sử dụng là sắt sunphat và H2O2. Bước 1 được thực hiện ở pH=3.

Bước 2: Áp dụng phương pháp Peroxon với tác nhân sử dụng là sắt sunphat kết hợp với H2O2 và ozon. Bước 2 được thực hiện ở pH=8.

Thí nghiệm được thực hiện như sau:

– Để đơn giản hóa quá trình thử nghiệm, nhóm nghiên cứu tiến hành thử nghiệm với mẫu thuốc BVTV Bascide và Maxfos bằng nhau. Quá trình xử lý thuốc BVTV được thực hiện qua các giai đoạn: Xử lý bằng kiềm nóng có xúc tác; Xử lý Fenton; Xử lý Peroxon.

– Tiến hành phân hủy 9 mẫu hỗn hợp, trong đó 01 mẫu được sử dụng để xác định hàm lượng COD ban đầu, 08 mẫu còn lại được đưa vào sơ đồ quy hoạch thực nghiệm.

– Ở bước thực hiện phản ứng Fenton, sau khi hòa tan hết muối sắt đưa vào dung dịch, điều chỉnh pH của dung dịch về giá trị pH= 3, bổ sung lượng hydropeoxit theo quy hoạch. Sau khi để hỗn hợp hoàn thành phản ứng Fenton và lắng bùn trong khoảng 24 giờ, tách lấy phần nước trong để tiếp tục thực hiện bước Peroxon.

– Ở bước thực hiện quá trình Peroxon, nước trong sau quá trình Fenton được bổ sung lượng muối sắt theo quy hoạch, điều chỉnh pH của dung dịch về pH=8, bổ sung lượng hydropeoxit và lần lượt sục ozon theo quy hoạch. Các mẫu sau khi hoàn thành quá trình sục khí ozon được để lắng 24 giờ, tách lấy phần nước trong để xác định giá trị COD sau quá trình xử lý Fenton và Peroxon.

Kết quả xác định COD của các mẫu nước và hiệu suất giảm COD của từng mẫu được dẫn ra trong bảng 2.

Từ kết quả xác định sự suy giảm COD của các mẫu qua quá trình phản ứng Fenton và Peroxon dẫn ra trong bảng 2, có thể rút ra một số kết luận sau:

– Ở hầu hết các thí nghiệm (7 trong số 8 mẫu), mức suy giảm COD khác nhau không đáng kể và dao động trong khoảng 84- 86%. Tuy nhiên ở mẫu số 1, với các nhân tố ở mức cao thì sự suy giảm COD tăng lên đột ngột và đạt trên 90%.

– So sánh sự suy giảm COD ở các mẫu số 1, 2, 3, 4 có thể thấy việc tăng hàm lượng muối sắt cùng với việc tăng lượng hydropeoxit bổ sung làm tăng tương đối hiệu suất loại bỏ COD.

Từ kết quả quy hoạch đã dẫn ra, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được điều kiện tối ưu cho quá trình oxi hóa các chất hữu cơ trong nước thải chứa thuốc BVTV bằng Fenton và Peroxon.

Sự suy giảm hàm lượng các hoạt chất lân hữu cơ và cacbamat sau quá trình phân hủy hóa học và oxy hóa nâng cao được xác định bằng phân tích trên sắc ký lỏng hiệu năng cao. Giá trị COD và hàm lượng hoạt chất thuốc BVTV của phần nước trong được dẫn ra trong bảng 3.

Kết quả xác định COD của nước đã được xử lý hóa lý (kiềm nóng, Fenton và Peroxon) cho thấy hàm lượng COD của nước đã xử lý hóa lý khá thấp, khá thích hợp cho việc lọc sinh học. Hàm lượng các hoạt chất (Fenobucarb và Chlorpyrifos) trong nước đã được xử lý hóa lý hầu như không đáng kể và nằm dưới giới hạn cho phép về dư lượng thuốc BVTV của quy chuẩn QCVN 24: 2009/BTNMT, cột B.

3.3. Xử lý COD của nước bằng bộ lọc sinh học

Bộ lọc sinh học hoạt động với lưu lượng từ 15L/ngàyđêm trở lên. Giá thể để vi sinh vật bám vào là những đoạn ống nhựa PE có đường kính d= 10mm, chiều dài L= 25mm. Giá thể cho vào bộ lọc có chiều cao H= 35cm.

Vi sinh vật sử dụng trong bộ lọc sinh học lấy từ bùn hiếu khí của quá trình xử lý nước thải bia. Lượng bùn sử dụng trong bộ lọc sinh học là 2500mg/L.

Để không khí sục vào được phân tán tốt trong bộ lọc, ngoài việc sử dụng hệ thống sục khí bằng đá bọt, còn bố trí lưới inox có kích thước lỗ 1mm ở đáy và phía trên lớp lọc.

Để bảo đảm việc cấp nước liên tục và ổn định, hệ thống cấp nước và cấp không khí vào bộ lọc sinh học được thực hiện nhờ không khí nén theo sơ đồ sau.

1.Máy nén khí; 2.Các van điều chỉnh; 3.Các lưu tốc kế khí; 4.Thùng chứa nước cần xử lý; 5.Bộ lọc sinh học; 6.Đường cấp nước cần xử lý; 7.Nước đã xử lý.

Hai chế độ lưu lượng 21L/ngđ và 25,4L/ngđ đã được thử nghiệm trên hệ thống. Nước sử dụng trong thử nghiệm là nước chứa hỗn hợp thuốc BVTV đã được xử lý bằng kiềm nóng có xúc tác, được xử lý bằng Fenton và Peroxon như đã dẫn ra trong mục 3.2. Ứng với chế độ lưu lượng 21 L/ngđ và hàm lượng COD đầu vào 328,8mg/L ta có số liệu trong bảng 4.

Ứng với chế độ lưu lượng 25,4 L/ngđ và hàm lượng COD đầu vào 328,8mg/L ta có số liệu trong bảng 5.

Số liệu thu được trong bảng 4 và 5 cho thấy:

– Hiệu quả xử lý COD tăng lên theo thời gian, điều đó liên quan đến điều kiện môi trường cho vi sinh vật tăng trường, số lượng vi sinh vật tăng lên.

– Hiệu suất loại bỏ COD ở chế độ tải trọng lớn (0,68 kgCOD/m3ngđ) cao hơn chút ít so với ở chế độ tải trọng thấp hơn (0,57 kgCOD/m3ngđ) nhưng đạt tới giá trị ổn định với hiệu suất giảm COD khoảng 90%.

– Chất lượng nước sau xử lý bằng lọc sinh học đạt yêu cầu của quy chuẩn QCVN 24: 2009/BTNMT, cột B.

IV. Kết luận

Từ những số liệu đã dẫn ra, có thể áp dụng quy trình sau để phân hủy thuốc BVTV tồn đọng:

– Phân hủy thuốc BVTV tồn đọng bằng kiềm nóng có xúc tác;

– Xử lý các phân mảnh hữu cơ và hoạt chất thuốc BVTV còn dư trong hỗn hợp phân hủy bằng phương pháp oxy hóa nâng cao;

Trong trường hợp cần tiêu hủy nhiều thuốc BVTV, nước từ quá trình xử lý bằng phương pháp oxy hóa nâng cao được tái sử dụng cho quá trình phân hủy tiếp theo. Để thải bỏ nước sau xử lý oxy hóa năng cao ra môi trường, cần tiếp tục xử lý COD của nước thải bằng bộ lọc sinh học.

– Xử lý COD của nước sau xử lý oxy hóa năng cao bằng bộ lọc sinh học hiếu khí;

– Chất lượng nước sau xử lý bằng lọc sinh học đạt yêu cầu của quy chuẩn QCVN 24: 2009/BTNMT, cột B.

Tài liệu tham khảo

1. TS. Lê Văn Thiện,  Hiện trạng quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong thâm canh hoa tại xã Tây Tựu, Huyện Từ Liêm, Hà Nội, Đề tài 37/2007 do Trung tâm Hỗ trợ Nghiên cứu Châu Á tài trợ.

2. Nguyễn Huy Phú, Nguyễn Hồng Phương, Nghiên cứu xử lý nước thải dệt nhuộm bằng phương pháp oxy hóa nâng cao, 2010, Viện Khoa học công nghệ và Quản lý môi trường, ĐH công nghiệp TP Hồ Chí Minh.

3. Văn phòng ban chỉ đạo 33, www.office33.gov.vn.

4. Barbara Kasprzyk-Hordern, Maria Ziółek, Jacek Nawrocki, Catalytic ozonation and methods of enhancing molecular ozone reactions in water treatment, Applied Catalysis B: Environmental 46 (2003) 639–669.

5. C. Gottschalk, J. A. Libra, A. Saupe, Ozonation of Water and Waste Water. A Practical Guide to Understanding Ozone and its Application,  WILEY-VCH, 2000.

6. Flaherty, K. A. and Huang, C. P., “Continuous Flow Applications of Fenton’s Reagent for the Treatment of Refractory Wastewaters,” Proceedings of the Second International Symposium, Tennessee, U.S.A., 58 (1992).

7. Ingo Gödeke . Treatment of pesticides without using incineration technologies Propose for guidelines, regulations and BAT requirements, 2005

8. V. Kavitha, K. Palanivelu, Destruction of cresols by Fenton oxidation process, Water Research 39 (2005) 3062–3072.

9. Mark E. Zappi, Beth C. Fleming, and M. John Cullinane, “Treatment of Contaminated Groundwater Using Chemical Oxidation.”, USCOE Waterways Experiment Station, 3909 Halls Ferry Road, Vicksburg, Mississippi, 39180-6199.

10. Rupa Lamsal, Margaret E. Walsh, Graham A. Gagnon, Comparison of advanced oxidation processes for the removal of natural organic matter, Water Research, Volume 45, Issue 10, May 2011, Pages 3263-3269.

11. Zhou H. and Smith D.W. (2002), Advanced technologies in water and wastewater treatment, Journal Environmental Engineering Science, 1, 247-264.

ThS. Nguyễn Thị Thúy Hằng

CN. Nguyễn Khánh Huyền, KS. Nguyễn Văn Lâm

Viện N/C KHKT Bảo hộ Lao động


(Nguồn tin: Nilp.vn)