Đánh giá một số chỉ tiêu thể lực trong quá trình lao động của công nhân cột cao thông tin
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong ngành Bưu Điện, công nhân cột cao thông tin làm các công việc chủ yếu như: xây lắp, sửa chữa, bảo dưỡng cột cao thông tin có độ cao trên 6,5m. Điều kiện làm việc của nghề này phức tạp và đa dạng trên nhiều loại địa hình khác nhau như đồi núi, đôi khi là vùng sâu, vùng xa. Công nhân cột cao thông tin phải làm việc trên cao, khí hậu khắc nghiệt, đặc biệt là tốc độ gió rất lớn, đòi hỏi người lao động phải có thể lực, sức bền, để làm việc trái tư thế (ở tư thế bất lợi). Vì vậy, nghề cột cao thông tin được Nhà nước xếp vào lao động loại V, loại lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Theo thống kê của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, tỷ lệ tai nạn lao động do làm việc trên cao chiếm từ 30 ÷ 40% trong tổng số các vụ tai nạn trong toàn ngành. Trong quá trình chăm sóc sức khỏe cho công nhân cột cao thông tin, chúng tôi cũng đã phát hiện một số bệnh lý chiếm tỷ lệ cao hơn các nghề khác [5].
Trong điều kiện làm việc có nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp nói trên, một số yếu tố có thể khắc phục được phần nào bằng các biện pháp an toàn vệ sinh lao động, như thắt dây an toàn, kiểm tra sức khỏe trước khi trèo cao. Tuy nhiên cũng có những điều kiện bất khả kháng bắt buộc người lao động phải có đủ tố chất về thể lực, chức năng thần kinh tâm lý và khả năng nhất định khác để hoàn thành nhiệm vụ một cách có hiệu quả và bảo đảm an toàn như chức năng tiền đình tốt, chịu đựng được stress và đủ bản lĩnh để xử lý các tình huống bất ngờ.v.v.
Theo thống kê tại Mỹ năm 1994, trong 6.067 trường hợp tử vong ở nam, ngã cao chiếm 10,3%; tỷ lệ ngã bắt đầu tăng cao ở tuổi 45 – 54 và tăng cao hơn ở tuổi trên 55 [8,9]. Theo thống kê ở Thuỵ Điển năm 1982, có 52,9% bệnh nghề nghiệp gây nên do yếu tố Ecgonomi, làm việc trái tư thế lâu ngày có thể dẫn đến tăng nguy cơ tai nạn lao động và mắc bệnh nghề nghiệp [1].
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: đánh giá một số chỉ tiêu thể lực của công nhân cột cao thông tin T trong quá trình lao động. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp khắc phục.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
– Đối tượng nghiên cứu: công nhân cột cao thông tin và cán bộ công nhân viên hành chính đang làm việc trong các đơn vị nghiên cứu được chọn.
– Địa điểm nghiên cứu: các đơn vị viễn thông khu vực phía Bắc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
2.2. Phương pháp nghiên cứu:
– Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu ngang có so sánh.
– Chọn mẫu nghiên cứu: chọn ngẫu nhiên tại các đơn vị nghiên cứu.
– Cỡ mẫu nghiên cứu:
+ Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho việc so sánh khác biệt giữa hai trị số trung bình như sau [2]:

+ s: độ lệch chuẩn; d: sự khác biệt giữa hai số trung bình trước và sau ca lao động; Z2(α, β): tra bảng có giá trị là 10,5.
+ Tham khảo các nghiên cứu trước, chọn độ lệch chuẩn của sức bóp tay phải là 6 kg và sai khác nhau giữa hai trị số trung bình là 5 kg. Thay vào công thức tính được số đối tượng nghiên cứu tối thiểu là 29 đối tượng cho mỗi nhóm.
– Kỹ thuật thu thập thông tin:
+ Đo cân nặng, sức bóp tay, sức kéo thân theo thường qui kỹ thuật của viện Y học lao động & vệ sinh môi trường-2002.
+ Đánh giá mức tiêu hao năng lượng: tiêu hao năng lượng được ước tính theo công thức [7].
E = 0,0623 M – 2,609
Trong đó: E – Tiêu hao năng lượng tính bằng KcaL/phút.
M – Mạch hồi phục phút thứ nhất (lần/phút).
– Phương pháp thống kê xử lý số liệu: tiến hành trên Epi info 6.4
– Đạo đức nghiên cứu: nghiên cứu tuân thủ theo quy định và được Hội đồng đạo đức của Bệnh viện Bưu điện thông qua trước khi tiến hành.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Sức bóp tay và sức kéo thân của công nhân cột cao thông tin (xem các Bảng 1,2,3):
Bảng 1: Sức bóp tay phải của công nhân cột cao thông tin và đối chứng trong ca lao động
| Nhóm nghiên cứu | Đơn vị tính | Trước ca | Sau ca | P | ||
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|||
| Chủ cứu (n=40) | Kg | 46,41 | 5,56 | 43,19 | 5,60 | <0,05 |
| Đối chứng (n=40) | Kg | 36,57 | 7,37 | 39,07 | 7,84 | >0,05 |
| p | <0,001 | <0,001 | ||||
Nhận xét:
– Tại thời điểm trước ca, sức bóp tay phải của công nhân cột cao thông tin lớn hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê.
– Tại thời điểm sau ca sức bóp tay phải của công nhân cột cao thông tin giảm thấp hơn so với trước ca có ý nghĩa thống kê. Trong khi đó, không thấy sự khác biệt này ở nhóm đối chứng.
Bảng 2: Sức bóp tay trái của công nhân cột cao thông tin và đối chứng trong ca lao động
| Nhóm nghiên cứu | Đơn vị tính | Trước ca | Sau ca | P | ||
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|||
| Chủ cứu (n=40) | Kg | 47,10 | 6,69 | 43,61 | 5,77 | <0,05 |
| Đối chứng (n=40) | Kg | 37,12 | 5,89 | 36,57 | 7,13 | >0,05 |
| p | <0,001 | <0,001 | ||||
Nhận xét:
– Tại thời điểm trước ca sức bóp tay trái của công nhân cột cao thông tin lớn hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê.
– Tại thời điểm sau ca sức bóp tay trái của công nhân cột cao thông tin giảm thấp hơn so với trước ca có ý nghĩa thống kê. Trong khi đó, không thấy sự khác biệt này ở nhóm đối chứng.
Bảng 3: Sức kéo thân của công nhân cột cao thông tin và đối chứng trong ca lao động
| Nhóm nghiên cứu | Đơn vị tính | Trước ca | Sau ca | P | ||
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
|||
| Chủ cứu (n=40) | Kg | 128,72 | 24,15 | 116,34 | 23,46 | <0,01 |
| Đối chứng (n=40) | Kg | 94,57 | 23,95 | 99,57 | 24,37 | >0,05 |
| p | <0,001 | <0,001 | ||||
Nhận xét:
– Tại thời điểm trước ca sức kéo thân của công nhân cột cao thông tin lớn hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê.
– Tại thời điểm sau ca sức kéo thân của công nhân cột cao thông tin giảm thấp hơn so với trước ca có ý nghĩa thống kê. Trong khi đó, không thấy sự khác biệt này ở nhóm đối chứng.
3.2. Kết quả đánh giá mức tiêu hao năng lượng của công nhân cột cao thông tin (xem Bảng 4):
Bảng 4: Kết quả mức tiêu hao năng lượng của công nhân cột cao thông tin trong lao động
| Lên cột (n = 40) | Xuống cột (n = 40) | |||||||
| Mức cột | I | II | III | IV | I | II | ||


