Đánh giá thực trạng an toàn vệ sinh lao động và tình hình áp dụng hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động tại các cơ sở sản xuất giầy

Ngày đăng: 16/12/2025
icon user

ThS. Nguyễn Khánh Huyền, ThS. Nguyễn Thị Thúy Hằng, CN. Lê Thị Đào và các cộng sự

Xem thêm
  • 1Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động

Lĩnh vực: An toàn và chính sách

Trạng thái: --

Từ khóa:

An toàn vệ sinh lao động, điều kiện lao động, giầy da, hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động

TÓM TẮT

1. Mở đầu

Ngành sản xuất giầy là ngành tập trung số lượng lớn người lao động nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ bệnh nghề nghiệp và an toàn vệ sinh lao động. Môi trường làm việc của người lao động chịu nhiều tác động của các yếu tố như bụi, tiếng ồn, ánh sáng và tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ.

2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng an toàn vệ sinh lao động và tình hình áp dụng hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động tại 26 cơ sở sản xuất giầy da thuộc 3 miền Bắc-Trung-Nam, sử dụng phương pháp đo đạc các thông số của môi trường lao động và điều tra bằng phiếu hỏi: i) phiếu phỏng vấn doanh nghiệp, ii) phiếu phỏng vấn người lao động, iii) phiếu thu thập và nhận diện mối nguy về ATVSLĐ.

3. Kết quả nghiên cứu

Kết quả cho thấy, 09/26 cơ sở sản xuất giầy da vi phạm quy chuẩn về vi khí hậu; 21 vị trí vi phạm tiêu chuẩn về tiếng ồn; 06 cơ sở sản xuất có nhiều vị trí nồng độ dung môi hữu cơ acetone, MEK vượt tiêu chuẩn cho phép. Phát hiện 09/26 cơ sở chưa trang bị PTBVCN, 06/26 cơ sở không tổ chức đo, kiểm tra môi trường lao động định kỳ, 08/26 cơ sở không tổ chức huấn luyện ATVSLĐ. 15/26 cơ sở sản xuất đạt chứng nhận ISO 9001, chỉ có 01 cơ sở sản xuất đạt chứng nhận hệ thống quản lý ATVSLĐ OHSAS 18001.

4. Kết luận

Cần có các giải pháp cải thiện điều kiện lao động cho người lao động và các quy định cụ thể của Nhà nước về hỗ trợ các doanh nghiệp cũng như nâng cao nhận thức của người lao động về công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động và khuyến khích doanh nghiệp xây dựng, áp dụng các hệ thống quản lý an toàn vệ sinh lao động.

(Bài viết được đăng trên Tạp chí Hoạt động KHCN số 4,5&6-2021)