Những nội dung chính Điều lệ Công đoàn khóa XI
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết lực lượng, xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh.
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có tính chất giai cấp của giai cấp công nhân và tính quần chúng, là thành viên của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có quan hệ hợp tác với Nhà nước và phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức xã hội khác; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam có chức năng: Đại diện bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế – xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam luôn luôn trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và của dân tộc, đồng thời phát huy truyền thông đoàn kết quốc tế, tăng cường và mở rộng hợp tác với công đoàn các nước, các tổ chức quốc tế trên nguyên tắc hữu nghị, đoàn kết, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi, phấn đấu cho mục tiêu: Vì quyền, lợi ích người lao động, vì hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc, phát triển và tiến bộ xã hội.
Chương I– Đoàn viên và cán bộ công đoàn- có 6 điều (Từ Điều 1 đến Điều 6) đề cập đến: Đối tượng và điều kiện, thủ tục kết nạp, công nhận đoàn viên Công đoàn Việt Nam; Quyền và nhiệm vụ của đoàn viên; Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ công đoàn.
Chương II – Nguyên tắc và hệ thống tổ chức Công đoàn có 9 điều (Từ Điều 7 đến Điều 15) nêu các vấn đề chung như: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động; Hội nghị đại biểu, hội nghị toàn thể, Nguyên tắc, hình thức bầu cử cơ quan lãnh đạo công đoàn các cấp và đại biểu dự đại hội, hội nghị công đoàn cấp trên; Ban chấp hành công đoàn các cấp; Quyền hạn của ban chấp hành về tổ chức bộ máy làm việc; Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ban thường vụ công đoàn các cấp
Huy hiệu Công đoàn (Điều 8) được sử dụng thống nhất trong các cấp Công đoàn theo mẫu sau:

Đặc điểm cơ bản của huy hiệu Công đoàn :
– Bánh xe răng công nghiệp màu đen (có số lượng 13 răng không bị che lấp) đặt ở trung tâm quả địa cầu.
– Phía trên bánh xe răng, có Quốc kỳ Việt Nam, lá cờ màu đỏ tươi, ngôi sao vàng tươi ở chính giữa lá cờ.
– Thước cặp màu đen đặt bên trong bánh xe răng công nghiệp, trên nền màu xanh da trời.
– Quyển sách màu trắng đặt chính giữa, phía trước, bên dưới bánh xe răng,
– Phần đế dưới quả địa cầu có chữ “TLĐ” trên nền dải cuốn cách điệu màu xanh công nhân.
– Đường kinh tuyến, vĩ tuyến của quả địa cầu màu trắng, trên nền màu vàng kim loại.
Chương III– Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn: có 8 điều (Từ Điều 16 đến Điều 23) nêu các vấn đề như: Điều kiện thành lập và hình thức tổ chức của công đoàn cơ sở; Trình tự thành lập; nhiệm vụ, quyền hạn của công đoàn cơ sở trong các cơ quan nhà nước, cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, đơn vị sự nghiệp công lập, nghiệp đoàn….
Chương IV– Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở: có 6 (Từ Điều 24 đến Điều 29) nêu các nội dung về qui mô, nhiệm vụ, quyền hạn của Công đoàn giáo dục huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Công đoàn ngành địa phương;. Liên đoàn lao động huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Công đoàn các khu công nghiệp, tổng công ty…
Chương V– Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố, công đoàn ngành trung ương và tương đương, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam: có 5 điều (Từ Điều 30 đến Điều 34)
Chương VI– Công tác nữ công – có 2 điều (Điều 35, Điều 36)
Công tác nữ công là nhiệm vụ của ban chấp hành công đoàn mỗi cấp, nhằm phát huy vai trò và đảm bảo nghĩa vụ, quyền lợi hợp pháp, chính đáng của lao động nữ theo quy định của pháp luật.(Điều 35)
Ban nữ công công đoàn có nhiệm vụ tham mưu giúp ban chấp hành công đoàn cùng cấp về công tác xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến lao động nữ, về giới, bình đẳng giới, vì sự phát triển của phụ nữ, công tác cán bộ nữ, dân số, sức khỏe sinh sản, gia đình, trẻ em; đại diện tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan trực tiếp đến lao động nữ và trẻ em (Khoản 1 Điều 36).
Chương VII – Tài chính và tải sản công đoàn (Điều 37,38)
Công đoàn thực hiện quản lý, sử dụng tài chính theo quy định của pháp luật và của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Tài chính của công đoàn gồm các nguồn thu:
Đoàn phí công đoàn do đoàn viên đóng hằng tháng bằng một phần trăm (1%) tiền lương; Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng bằng hai phần trăm (2%) quỹ tiền lương của người lao động; Ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ; Các nguồn thu khác…
Tài chính công đoàn dùng để chi các khoản: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động; Phát triển đoàn viên công đoàn, thành lập, xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh; Tổ chức phong trào thi đua do công đoàn phát động; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn; Thăm hỏi, trợ cấp cho đoàn viên công đoàn và người lao động khi ốm đau, thai sản, hoạn nạn, khó khăn; tổ chức hoạt động chăm lo khác cho người lao động; .Động viên, khen thưởng người lao động, con của người lao động có thành tích trong học tập, công tác…
Tài chính công đoàn được quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch. Thực hiện phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm của công đoàn các cấp.Ban chấp hành, Đoàn Chủ tịch (ban thường vụ) công đoàn các cấp có nhiệm vụ quản lý tài chính theo đúng quy định của pháp luật và của tổ chức Công đoàn.
Tài sản của Công được hình thành từ nguồn đóng góp của đoàn viên công đoàn, từ nguồn vốn của công đoàn; tài sản do Nhà nước chuyển giao quyền sở hữu cho công đoàn và các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu của công đoàn.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thực hiện quyền, trách nhiệm sở hữu tài sản của công đoàn theo quy định của pháp luật.
Chương VIII– Công tác kiểm tra công đoàn và ủy ban kiểm tra công đoàn các cấp có 4 điều (từ Điều 39 đến Điều 42)
Chương IX– Khen thưởng – Kỷ luật có 2 điều (từ Điều 43, Điều 44)
Cán bộ, đoàn viên Công đoàn, những người có công xây dựng tổ chức Công đoàn, các cấp Công đoàn và Nghiệp đoàn có thành tích hoạt động xuất sắc được Công đoàn xét khen thưởng, theo quy định của pháp luật và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Đoàn viên, cán bộ Công đoàn, tổ chức, tập thể Ban Chấp hành, tập thể Ban Thường vụ Công đoàn các cấp, nếu vi phạm Điều lệ, Nghị quyết và các quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thì tùy theo mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật công khai, chính xác và kịp thời.
Chương X – Chấp hành Điều lệ công đoàn Việt Nam (Điều 45)
– Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Tổ chức, tập thể Ban Chấp hành, tập thể Đoàn Chủ tịch (Ban Thường vụ) Công đoàn các cấp, cán bộ và đoàn viên Công đoàn phải chấp hành nghiêm chỉnh Điều lệ Công đoàn Việt Nam.
– Những vấn đề mới phát sinh chưa được quy định trong Điều lệ, giao cho Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam xem xét hướng dẫn cho phù hợp với tình hình chung.
– Điều lệ Công đoàn Việt Nam do Đại hội Công đoàn toàn quốc thông qua. Chỉ Đại hội Công đoàn toàn quốc mới có quyền sửa đổi, bổ sung Điều lệ Công đoàn Việt Nam./.
Nội dung toàn văn Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XI có thể xem tại đây
Tổng hợp: K. Dung
(Nguồn tin: Nilp.vn)
