Tổng quan một số phương pháp đánh giá rủi ro sức khỏe nghề nghiệp do các yếu tố hóa học và hóa lý trong môi trường lao động

Thứ Hai, 15/09/2025, 08:57 Sáng

I. Đặt vấn đề

Không khí môi trường lao động ô nhiễm là nguyên nhân chính gây suy giảm sức khỏe và bệnh nghề nghiệp ở người lao động. Tuy nhiên, việc xác định chính xác các yếu tố nguy hại và mức độ tác động của chúng lại không dễ dàng. Các quy định của cơ quan quản lý nhằm đảm bảo doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ trong xử lý ô nhiễm môi trường lao động và bảo vệ sức khỏe người lao động, trong đó có quy định về đánh giá rủi ro an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Mặc dù đã có quy định chung, việc lựa chọn phương pháp lại tùy thuộc vào sự sẵn có của phương pháp và hướng dẫn thực hiện, cũng như nguồn lực và khả năng áp dụng của từng doanh nghiệp. Bởi vậy, nhiệm vụ của các đơn vị nghiên cứu là tìm hiểu, áp dụng thử và chỉ ra những phương pháp đánh giá rủi ro khả thi để giúp doanh nghiệp lựa chọn. Mặt khác, một số nghiên cứu cần sử dụng phương pháp đánh giá đặc thù, có thể không phù hợp để áp dụng tại doanh nghiệp.

Bài viết này phân tích, so sánh các ưu nhược điểm của ba phương pháp đánh giá rủi ro nghề nghiệp gây ra do các yếu tố hóa học (hóa chất) và hóa lý (bụi, sol khí) trong không khí môi trường lao động, bao gồm phương pháp đánh giá bán định lượng của Bộ Nhân lực Singapore, phương pháp do nhóm nghiên cứu thuộc Viện KH An toàn và Vệ sinh lao động đề xuất (VNIOSH-2017), và phương pháp so sánh giữa liều tiếp xúc với liều tham chiếu của Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA), từ đó đưa ra khuyến nghị về khả năng áp dụng phương pháp trong các trường hợp cụ thể. 

II. Giới thiệu các phương pháp đánh giá

1. Phương pháp của Bộ Nhân lực Singapore (Semi-Quantitative Method)

Phương pháp bán định lượng của Bộ Nhân lực Singapore [6] được áp dụng nhằm đánh giá rủi ro sức khỏe nghề nghiệp (SKNN) gây ra do các hóa chất có hại trong môi trường làm việc, không bao gồm rủi ro cháy nổ và các rủi ro an toàn khác do hóa chất, với mục tiêu xác định khả năng xảy ra các tác động tiêu cực tới sức khỏe và mức độ cần thiết phải thực hiện các biện pháp bảo vệ.

Bộ Nhân lực Singapore đã đưa ra quy trình 11 bước để thực hiện đánh giá rủi ro bán định lượng, bao gồm từ lập nhóm làm việc, phân tích quy trình công việc, nhận diện hóa chất tiếp xúc, cho tới phân hạng mối nguy, phân hạng mức tiếp xúc, đánh giá rủi ro, cuối cùng là thực hiện hành động khắc phục và đánh giá để cải tiến.

Trung tâm của quy trình này là công thức:

Trong đó:     

  • R là mức rủi ro, được làm tròn thành số nguyên với thang từ 1 đến 5;
  • HR là mức nguy hại của hóa chất, được phân hạng 5 mức từ 1 tới 5;  

ER là mức tiếp xúc, được phân hạng 5 mức từ 1 tới 5.

Phân hạng mức nguy hại của hóa chất (xác định HR):

Mức nguy hại của hóa chất có thể được xác định từ độc tính hay tác động có hại của hóa chất tới sức khỏe theo Bảng 2, hoặc thông qua mức độ độc cấp tính của hóa chất thể hiện dưới dạng liều gây chết LD50 và nồng độ gây chết LC50 theo Bảng 3 (thông tin về LD50 và LC50 được thu thập từ Bảng chỉ dẫn an toàn hóa chất (MSDS) của hóa chất).

Phân hạng mức tiếp xúc với hóa chất (xác định ER):

Việc xác định mức tiếp xúc với hóa chất phụ thuộc vào nguồn dữ liệu sẵn có.

  • Trong trường hợp có dữ liệu quan trắc thực tế, sử dụng chính những dữ liệu này để tính toán và xác định nồng độ tiếp xúc, từ đó phân hạng mức tiếp xúc.

Các thông tin cần thu thập bao gồm: thời gian tiếp xúc (D), tần suất tiếp xúc (F), nồng độ tiếp xúc (M) (từ kết quả quan trắc thực tế), các hóa chất có tác động tương đồng.

Nồng độ tiếp xúc theo tuần được tính toán theo công thức (1):

        (1)

Trong đó:      E: nồng độ tiếp xúc hàng tuần (ppm hoặc mg/m3)

                    F: tần suất tiếp xúc mỗi tuần (lần/tuần)

                    M: nồng độ tiếp xúc (ppm hoặc mg/m3)

                    W: số giờ làm việc trung bình mỗi tuần (40 giờ)

                    D: thời gian trung bình của mỗi lần tiếp xúc (giờ)

Công thức (1) giả định rằng khi người lao động (NLĐ) không thực hiện nhiệm vụ có liên quan tới hóa chất thì nồng độ tiếp xúc bằng không. Giả thiết này cần được kiểm chứng và điều chỉnh trong trường hợp NLĐ vẫn tiếp xúc thụ động với hóa chất khi thực hiện những nhiệm vụ khác, ví dụ làm việc gần khu vực có hóa chất.

Sau khi đã tính toán được nồng độ tiếp xúc hàng tuần, mức tiếp xúc với hóa chất được phân hạng như Bảng 4, trong đó E/PEL là tỉ số giữa nồng độ tiếp xúc hàng tuần tính toán được trên nồng độ tiếp xúc cho phép theo TWA.

Khi có hai hay nhiều hóa chất có cùng tính chất hoặc tác động tương đồng, nồng độ tiếp xúc tổng hợp (Eth) được tính toán theo công thức (2) và được sử dụng để phân hạng mức tiếp xúc.

      (2)

Khi thời gian tiếp xúc vượt quá 40 giờ/tuần (8h/ngày, 5 ngày/tuần), giá trị nồng độ tiếp xúc cho phép (PEL) theo giới hạn tiếp xúc ca làm việc (TWA) được tính toán giảm, bằng cách nhân với hệ số điều chỉnh thời gian làm việc thực tế hàng tuần (f):

Trong đó H là số giờ làm việc mỗi tuần.

Khi NLĐ thực hiện những nhiệm vụ cần tiếp xúc ngắn với hóa chất, thời gian tiếp xúc ≤15 phút tại bất cứ thời điểm nào trong ngày, nồng độ tiếp xúc được so sánh với nồng độ tiếp xúc cho phép theo giới hạn tiếp xúc ngắn (STEL).

  • Trong trường hợp không có dữ liệu quan trắc thực tế, sử dụng các chỉ số tiếp xúc (exposure index) để làm căn cứ tính toán.

Công thức tính phân hạng mức tiếp xúc theo chỉ số tiếp xúc:

Trong đó n là số yếu tố tác động.

Các chỉ số tiếp xúc cũng được xếp hạng từ 1 tới 5 với 1 là mức thấp nhất và 5 là mức cao nhất, theo Bảng 5.

  • Đối với các hóa chất dạng lỏng, rủi ro do tiếp xúc phụ thuộc vào áp suất hóa hơi của hóa chất, được tra từ phiếu MSDS, điều chỉnh tới nhiệt độ thực tế của nơi lưu giữ hóa chất.
  • Đối với các chất ở dạng rắn (bụi), rủi ro qua đường hô hấp phụ thuộc vào kích thước hạt, tính theo đường kính động học, theo công thức (5):

Trong đó:      Da: đường kính động học

                    Dp: đường kính hạt

                    s.g: trọng lượng riêng của khối chất

  • Khả năng tiếp xúc với một hóa chất phụ thuộc nhiều vào sự có mặt của các giải pháp kiểm sát và hiệu quả của chúng. Ví dụ về các giải pháp kiểm soát đầy đủ bao gồm: bao che và cách ly nguồn ô nhiễm khỏi NLĐ; không có hoạt động phát thải chất ô nhiễm ra môi trường lao động (MTLĐ) có thể nhìn thấy được; đảm bảo tốc độ thu bắt đạt hiệu quả. Việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân không được tính là giải pháp kiểm soát.

2. Phương pháp VNNIOSH-17 của Viện KH An toàn và Vệ sinh lao động

Đây là phương pháp phân loại chất lượng vệ sinh MTLĐ và đánh giá rủi ro SKNN được nhóm nghiên cứu của Viện KH An toàn và Vệ sinh lao động xây dựng từ năm 2017 trên cơ sở các nguyên tắc đánh giá trong các tài liệu tiêu chuẩn của CHLB Nga và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Việt Nam, ban đầu đánh giá cho nhóm các yếu tố vi khí hậu [1], sau đó phát triển mở rộng cho các yếu tố vật lý [2] và các yếu tố hóa học trong không khí nơi làm việc [3].

Trong phương pháp này, các tác giả phân loại chất lượng vệ sinh MTLĐ thành 07 mức từ “rất tốt” tới “nguy hiểm”, tương ứng với 07 mức rủi ro từ “cực thấp” tới “cực cao”, căn cứ vào kết quả quan trắc của chỉ tiêu cần đánh giá và so sánh với nồng độ tiếp xúc cho phép theo STEL hoặc TWA tùy đặc tính của hóa chất (Bảng 6):

Trong các loại bụi theo QCVN 02:2019/BYT, bụi silic và bụi amiang đã được IARC xếp loại tác nhân gây ung thư cho người, do đó được đánh giá theo mục 3 của Bảng 6. Các loại bụi còn lại có nguồn gốc hóa chất không thuộc các mục từ 2-7 của Bảng 6, do đó được đánh giá theo mục 1.

Trên quan điểm bảo vệ sức khỏe NLĐ là ưu tiên hàng đầu, nhóm tác giả đề xuất thêm việc thực hiện đánh giá phân loại chất lượng vệ sinh và rủi ro SKNN đối với các hóa chất có khả năng gây ung thư (hóa chất thuộc nhóm 2A và 2B theo IARC) như đối với các hóa chất gây ung thư để đảm bảo an toàn hơn đối với người lao động. Cụ thể là các chất: xăng, dichloromethane, nitro toluene, carbon tetrachloride, chloroform, cobalt và hợp chất, và nitro benzene được quy định trong QCVN 03:2019/BYT.

3. Phương pháp xác đinh liều của Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ

Khi chất ô nhiễm xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp, lượng đi vào cơ thể và có khả năng gây tác động sinh học được gọi là “liều” và được phân biệt như sau:

  • Liều nguy cơ (potential dose) là lượng chất ô nhiễm hít vào, tuy nhiên không phải tất cả đều được hấp thụ.
  • Liều áp dụng (applied dose) là lượng chất ô nhiễm hít vào và có thể hấp thụ vào cơ thể.
  • Liều bên trong (internal dose) là lượng chất ô nhiễm vượt qua ranh giới trao đổi và đi vào máu, hoặc lượng chất ô nhiễm có thể tương tác với các cơ quan và các mô để gây tác động sinh học.
  • Liều hiệu dụng sinh học (biological effective dose) là lượng chất ô nhiễm thực sự có tác động tới các cơ quan hoặc mô mục tiêu trong cơ thể.

Như vậy, để đảm bảo một chất ô nhiễm không gây tác động có hại tới cơ thể, liều nguy cơ của chất đó phải lớn hơn liều tham chiếu.

Liều nguy cơ của một chất ô nhiễm được tính bằng tích của các đại lượng “nồng độ chất ô nhiễm”, “tỷ lệ hít thở”, “thời gian tiếp xúc”, “tần suất tiếp xúc” và “khoảng thời gian tiếp xúc” chia cho “thời gian trung bình” và “trọng lượng cơ thể”.

Công thức tính liều trung bình hằng ngày (Average Daily Dose – ADD) [9] của một chất ô nhiễm đi vào cơ thể theo đường hô hấp được tính theo công thức (6):

Trong đó:

      ADD: liều trung bình hằng ngày (mg/kg-day)

      Cair: nồng độ của chất ô nhiễm trong không khí (mg/m3)

      InhR: tỷ lệ hít thở (m3/giờ)

      ET: thời gian tiếp xúc (giờ/ngày)

      EF: tần suất tiếp xúc (ngày/năm)

      ED: khoảng thời gian tiếp xúc (năm)

      BW: cân nặng cơ thể (kg)

      AT: thời gian trung bình (ngày)

Đối với rủi ro tiếp xúc với hóa chất trong không khí môi trường làm việc, thông số nồng độ hóa chất được sử dụng từ kết quả lấy mẫu và phân tích hóa chất trong không khí pha hạt và pha hơi. Các thông số còn lại bao gồm thời gian tiếp xúc, tần suất tiếp xúc v.v. có thể thu thập từ doanh nghiệp và NLĐ thông qua phiếu hỏi.

Chỉ số nguy hại (HQ – hazard quotient) của hóa chất (đối với rủi ro phi ung thư) được xác định theo công thức:

Trong đó liều trung bình hàng ngày ADD được tính toán theo công thức (6) và RfD là liều tham chiếu của hóa chất.

  • Nếu HQ ≤ 1: Mức độ tiếp xúc được coi là an toàn, không có nguy cơ đáng kể gây hại cho sức khỏe.
  • Nếu HQ > 1: Mức độ tiếp xúc có thể gây ra các ảnh hưởng có hại cho sức khỏe, cần phải đánh giá thêm.

Có thể tra cứu liều tham chiếu của hóa chất trên một số cơ sở dữ liệu bao gồm:

  • Hệ thống thông tin rủi ro tích hợp (IRIS): cơ sở dữ liệu của Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (US EPA);
  • Cơ quan đăng ký chất độc hại và bệnh tật (ATSDR) thuộc Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC);
  • Cơ sở dữ liệu mở về hóa chất (PubChem) từ Viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ (NIH).

III. Phân tích so sánh và đề xuất khuyến nghị

Phương pháp của Bộ Nhân lực Singapore là phương pháp tương đối hoàn chỉnh và được hướng dẫn chi tiết để có thể áp dụng trực tiếp trong đánh giá rủi ro SKNN gây ra do các yếu tố hóa học và hóa lý (bụi và sol khí) trong MTLĐ.

Phương pháp này có phạm vi áp dụng rộng cho mọi ngành công nghiệp và loại hình lao động có sử dụng hóa chất [8, 10, 11], đồng thời, bảng phân hạng rủi ro 5 mức vừa đảm bảo mức độ chi tiết cần thiết để xắp xếp ưu tiên quản lý mối nguy, vừa đảm bảo tính phổ biến để có thể kết hợp linh hoạt với các phương pháp đánh giá rủi ro khác.

Phương pháp này cho phép đánh giá rủi ro tổng hợp của các hóa chất có tính chất tương tự hay tác động tương đồng, do đó có giá trị thực tế và đưa tới mức độ bảo vệ tốt hơn cho NLĐ.

Tuy nhiên, phương pháp này sử dụng thông tin về ảnh hưởng/tác động có hại hay độc tính đã biết của hóa chất để phân hạng mức nguy hại. Do đó, việc áp dụng sẽ gặp khó khăn khi đánh giá rủi ro gây ra do các hóa chất mới, tác động có hại và độc tính chưa biết.

Phương pháp VNNIOSH-17 đưa ra các mức phân loại khá rõ ràng. Căn cứ trên bảng phân loại chung (Bảng 6), nồng độ hóa chất quan trắc được trong không khí môi trường lao động, kết hợp với đặc tính của hóa chất và nồng độ cho phép được quy định, có thể dễ dàng xác định mức phân loại chất lượng vệ sinh MTLĐ và mức rủi ro SKNN tương ứng.

Phương pháp này phù hợp áp dụng tại Việt Nam [4, 5, 6] khi lấy căn cứ so sánh là các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02:2019/BYT và QCVN 03:2019/BYT. Đối với các chất chưa được QCVN quy định, vẫn có thể sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế phù hợp để làm căn cứ tham khảo.

Phương pháp VNNIOSH-17 phân loại rủi ro rất chi tiết với 7 mức, giúp doanh nghiệp dễ dàng xắp xếp ưu tiên trong quản lý mối nguy. Đồng thời, các tác giả đã xây dựng bộ phương pháp đánh giá đối với cả nhóm các yếu tố vi khí hậu và nhóm các yếu tố vật lý, do đó có thể dễ dàng áp dụng đồng bộ trong đánh giá rủi ro SKNN do các tác nhân vệ sinh MTLĐ. Tuy nhiên, việc phân loại quá chi tiết cũng gây ra hạn chế trong việc kết hợp với các phương pháp đánh giá rủi ro an toàn khác.

Mặt khác, phương pháp phân loại này phụ thuộc vào nồng độ tiếp xúc cho phép theo STEL và TWA, do đó đối với những chất hoàn toàn mới chưa được quy định, việc đánh giá không có căn cứ do đó không thể thực hiện.

Công thức của EPA có nhiều ý nghĩa về mặt dịch tễ học khi tính tới cả tỉ lệ hít thở và trọng lượng cơ thể của đối tượng được đánh giá. Đây là phương pháp có phạm vi áp dụng rộng, cả trong lĩnh vực xác định rủi ro nghề nghiệp và độc học môi trường.

Đối với các hợp chất mới chưa có dữ liệu về liều tham chiếu, có thể sử dụng liều tham chiếu của các chất cùng nhóm hoặc cùng tính chất. Khi đó, phương pháp này sẽ có giá trị cảnh báo, làm căn cứ để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về độc tính của hóa chất.

Kết quả đánh giá của phương pháp này chỉ xác định được hai mức “có” và “không có” rủi ro SKNN, không có giá trị phân hạng rủi ro và do đó doanh nghiệp/cơ sở sản xuất khó áp dụng trong đánh giá kiểm soát rủi ro.

Đánh giá rủi ro sức khỏe nghề nghiệp (SKNN) là quá trình nhận diện, phân tích và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố có hại trong môi trường làm việc tới sức khỏe người lao động (NLĐ), từ đó xác định khả năng can thiệp giảm thiểu hoặc loại bỏ thông qua kiểm soát quá trình, thay đổi công nghệ, nguyên vật liệu, hay cách ly NLĐ khỏi nguồn ô nhiễm. Như vậy, hai mục tiêu chính của hoạt động đánh giá rủi ro SKNN bao gồm: 1) chỉ ra được mối nguy có khả năng tác động bất lợi tới sức khỏe NLĐ, và 2) phân hạng được rủi ro theo mức độ cấp thiết phải giảm thiểu hoặc loại trừ, từ đó phân bổ nguồn lực tùy theo điều kiện cụ thể của cơ sở để đảm bảo NLĐ được bảo vệ ở mức tốt nhất. Khi xem xét ở khía cạnh này, phương pháp xác định liều tiếp xúc của EPA mới đáp ứng được mục tiêu thứ nhất, do đó không thực sự phù hợp để doanh nghiệp/cơ sở sản xuất áp dụng trực tiếp. Tuy nhiên, số lượng hóa chất được sử dụng trong sản xuất ngày càng lớn và đa dạng. Hiện có khoảng trên 140 triệu hóa chất được đăng ký trong danh sách của Hiệp hội Hóa học quốc tế (International Chemical Abstracts Society) và 10.000 hóa chất mới được đăng ký mỗi năm. Khi so sánh với vài trăm hóa chất có độc tính đã biết trong danh sách của ACGIH hay WHO, số lượng hóa chất chưa có giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp còn rất nhiều. Do hạn chế này, những phương pháp đánh giá dựa trên giá trị giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp chưa đáp ứng được hết các yêu cầu về đánh giá rủi ro. Khi đó, việc sử dụng phương pháp của EPA kết hợp với các nghiên cứu dịch tễ khác sẽ phát huy tác dụng trong việc xây dựng ngưỡng tiếp xúc và tiêu chuẩn giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp.

VI. Kết luận

Đánh giá rủi ro sức khỏe nghề nghiệp là bước quan trọng giúp bảo vệ người lao động trước các yếu tố có hại trong môi trường lao động và đã được pháp luật quy định. Trong đó, các yếu tố hóa học và hóa lý, với thành phần đa dạng, tiếp xúc đường hô hấp và nhiều tác động sức khỏe chưa biết là đối tượng được đặc biệt quan tâm. Việc lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp xác định được chính xác vấn đề và xây dựng được lộ trình giải quyết trong điều kiện nguồn lực cho phép. Mặt khác, ở khía cạnh nghiên cứu, phương pháp đánh giá rủi ro phù hợp cho phép giải quyết vấn đề trong điều kiện thiếu dữ kiện, định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc áp dụng cụ thể.

Bài viết này đã giới thiệu và phân tích các khía cạnh chính của ba phương pháp đánh giá rủi ro sức khỏe nghề nghiệp do tiếp xúc qua đường hô hấp với các yếu tố hóa học (hóa chất) và hóa lý (bụi, sol khí) trong môi trường lao động, bao gồm phương pháp đánh giá bán định lượng của Bộ Nhân lực Singapore, phương pháp do nhóm nghiên cứu thuộc Viện KH An toàn và Vệ sinh lao động đề xuất (VNIOSH-2017), và phương pháp so sánh giữa liều tiếp xúc với liều tham chiếu của Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA). Hai phương pháp đầu tiên phù hợp để áp dụng trực tiếp tại doanh nghiệp trong khi phương pháp của EPA phù hợp hơn với đối tượng là các nghiên cứu. Ngoài ra, việc lựa chọn phương pháp đánh giá cần dựa trên mục tiêu cụ thể và điều kiện dữ liệu sẵn có.  

Tài liệu tham khảo

  1. Đỗ Trần Hải, Nguyễn Thắng Lợi, Phạm Quốc Quân (2017). Đánh giá phân loại chất lượng vệ sinh môi trường lao động và rủi ro sức khỏe nghề nghiệp do tác động của các thông số kỹ thuật. Tạp chí Bảo hộ lao động, số 264.
  2. Đỗ Trần Hải, Nguyễn Thắng Lợi, Phạm Quốc Quân (2020). Phân loại chất lượng vệ sinh môi trường lao động và rủi ro sức khỏe nghề nghiệp do tác động của các yếu tố vật lý. Tạp chí hoạt động KHCN An toàn – Sức khỏe và Môi trường lao động, số 1,2&3-2020.
  3. Đỗ Trần Hải, Nguyễn Thắng Lợi, Phạm Quốc Quân (2021). Phương pháp đánh giá, phân loại chất lượng vệ sinh môi trường lao động và rủi ro sức khoẻ nghề nghiệp theo các yếu tố hoá học trong không khí nơi làm việc. Tạp chí hoạt động KHCN An toàn – Sức khỏe và Môi trường lao động, số 1,2&3-2021.
  4. Lê Minh Đức (2022). Nghiên cứu đánh giá phân loại điều kiện lao động cho các cơ sở sản xuất ngành dệt may. Báo cáo tổng kết đề tài mã số CTTĐ-221/01/TLĐ. Viện KH An toàn và Vệ sinh lao động.
  5. Nguyễn Hoàng Phương (2023). Nghiên cứu giải pháp kiểm soát rủi ro an toàn và sức khỏe nghề nghiệp tại một số cơ sở đóng tàu biển góp phần giảm thiểu tai nạn và bệnh nghề nghiệp. Báo cáo tổng kết đề tài mã số CTTĐ-2021/01/TLĐ. Viện KH An toàn và Vệ sinh lao động.
  6. Nguyễn Thắng Lợi (2019). Nghiên cứu đánh giá rủi ro an toàn, vệ sinh lao động và đề xuất áp dụng hệ thống quản lý phù hợp ở các cơ sở khai thác và chế biến đá. Báo cáo tổng kết đề tài mã số CTTĐ-2018/02/TLĐ. Viện KH An toàn và Vệ sinh lao động.
  7. Ministry of Manpower, Occupational Safety and Health Division (2005). A semi-quantitative method to assess occupational exposure to harmful chemicals. Singapore 059764.
  8. Mohammadyan M., Charati J. Y., Yousefinejad R., Zare R. (2020). Inhalable wood dust: Risk assessment of occupational exposure. Iranian Journal of Health Sciences, 8(2), p.32-44.
  9. US EPA. Exposure assessment tools by routes – Inhalation. Xem tại: https://www.epa.gov/expobox/exposure-assessment-tools-routes-inhalation. (truy cập lần cuối ngày 25/9/2024).
  10. Xu Q., Zhang M., Xu L., Yuan W., Ren H., Wang P., Shao X., Zhou Z., Zou H., Cao Y. (2022). Evaluation of strategies for the occupational health risk assessment of chemical toxicants in the workplace based on a quantitative analysis model. Front Public Health, 10:1035065.
  11. Zeverdegani S. K., Ordudari Z., Karimi A., Esmaeili Z., Khorvash M. K. (2023). Comparison of the chemical health risk assessment of exposure to metal fumes for the furnace operator of a foundry industry using quantitative and semi-quantitative methods. Heliyon, 9(1), e12913.

ThS. Nguyễn Hoàng Phương

Trạm Quan trắc và Phân tích Môi trường lao động