Rà soát vấn đề bình đẳng giới trong dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi)

Thứ Hai, 17/08/2026, 09:16 Sáng

Sáng 14/8, tại Trụ sở các cơ quan của Quốc hội (22 Hùng Vương, Hà Nội), Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội tổ chức cuộc họp nghe Bộ Nội vụ báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi). Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Trần Thị Thanh Lam chủ trì cuộc họp.

Quang cảnh cuộc họp

Tham dự cuộc họp có các Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội: Nguyễn Thanh Cầm, Đỗ Hoàng Việt; đại diện Thường trực Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.

Về phía đại diện Ban soạn thảo dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) có ông Bùi Đức Nhưỡng, Phó Cục trưởng Cục Việc làm, Bộ Nội vụ.

Tham dự cuộc họp còn có đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chuyên gia về lĩnh vực bình đẳng giới.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Trần Thị Thanh Lam chủ trì cuộc họp

Báo cáo với Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội về nội dung dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) và việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án Luật, Phó Cục trưởng Cục Việc làm Bùi Đức Nhưỡng cho biết, sau hơn 10 năm thi hành Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, bên cạnh những kết quả đạt được, một số quy định đã bộc lộ hạn chế, bất cập như: quy định về quản lý nhà nước chưa hoàn toàn phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới; cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin, khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị hiện đại; chính sách bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cần được hoàn thiện để tăng vai trò phòng ngừa, phục hồi và chia sẻ rủi ro; phạm vi hỗ trợ đối với người làm việc không có quan hệ lao động và các hình thức làm việc mới cần được làm rõ hơn.

Sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, vật liệu mới, mô hình lao động mới và chuyển đổi số đang làm thay đổi môi trường lao động, đồng thời phát sinh các dạng nguy cơ, rủi ro mới. Trong bối cảnh đó, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động cần tiếp tục được hoàn thiện trên cơ sở lấy phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm trọng tâm, bảo vệ sức khỏe người lao động và bảo đảm tiếp cận bình đẳng đối với các quyền, chính sách và dịch vụ an toàn, vệ sinh lao động.

Phó Cục trưởng Cục Việc làm Bùi Đức Nhưỡng báo cáo tại cuộc họp

Theo đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) cần bảo đảm các yêu cầu sau:

(1) Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của dự thảo Luật với pháp luật về bình đẳng giới, Bộ luật Lao động, pháp luật về bảo hiểm xã hội, người khuyết tật, khám bệnh, chữa bệnh và các pháp luật có liên quan.

(2) Bảo đảm mọi người lao động, không phân biệt giới, được tiếp cận bình đẳng với quyền làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động, thông tin, huấn luyện, chăm sóc sức khỏe, chế độ bảo hộ lao động và các chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

(3) Bảo đảm bình đẳng giới thực chất, đồng thời cho phép áp dụng các biện pháp phù hợp với đặc điểm sinh học, sức khỏe, điều kiện và hình thức lao động của từng nhóm đối tượng, không làm phát sinh rào cản bất hợp lý về cơ hội việc làm và nghề nghiệp.

(4) Tăng cường khả năng nhận diện, theo dõi và đánh giá tác động khác biệt đối với lao động nữ và lao động nam thông qua hệ thống dữ liệu, thống kê, báo cáo, nghiên cứu và tổ chức thực thi pháp luật.

(5) Bảo đảm sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước CEDAW và các tiêu chuẩn lao động quốc tế có liên quan.

Phó Cục trưởng Cục Việc làm Bùi Đức Nhưỡng báo cáo tại cuộc họp

Thông tin cụ thể về nội dung lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo Luật, Phó Cục trưởng Cục Việc làm Bùi Đức Nhưỡng cho biết, về nguyên tắc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, Điều 5 dự thảo Luật xác định quyền của người lao động được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động và lấy phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm trọng tâm; quản lý nhà nước được thực hiện trên cơ sở đánh giá, phân loại mức độ rủi ro; ưu tiên các biện pháp phòng ngừa, loại trừ, kiểm soát yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; đồng thời thực hiện tham vấn các tổ chức có liên quan trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật. Các nguyên tắc này áp dụng chung đối với mọi người lao động, không phân biệt giới, và tạo cơ sở để áp dụng biện pháp bảo vệ dựa trên mức độ rủi ro thực tế của công việc.

Về chính sách của Nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động, Điều 4 dự thảo Luật tiếp tục hoàn thiện chính sách của Nhà nước theo hướng hỗ trợ phòng ngừa, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng hệ thống thử nghiệm, đánh giá, dự báo, cảnh báo rủi ro; phát triển nguồn nhân lực và cơ sở dữ liệu; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh, ngành nghề có nguy cơ cao và địa bàn khó khăn; hỗ trợ người làm việc không có quan hệ lao động; phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và sử dụng Quỹ hiệu quả.

Các đại biểu tại cuộc họp

Về chế độ bảo hộ lao động và chăm sóc sức khỏe người lao động, Điều 18 dự thảo Luật quy định người lao động làm công việc có tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân; người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được bồi dưỡng bằng hiện vật; người sử dụng lao động phải bảo đảm thời gian tiếp xúc trong giới hạn an toàn và thực hiện đầy đủ chế độ bảo hộ, chăm sóc sức khỏe đối với nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Việc xác định quyền lợi trên cơ sở yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và điều kiện lao động góp phần bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tránh quy định bảo hộ chỉ dựa trên giới tính.

Kinh nghiệm rà soát khi xây dựng Luật năm 2015 cho thấy phương tiện bảo vệ cá nhân và thiết bị làm việc nếu chỉ thiết kế theo một kích thước hoặc một dạng hình thể chung có thể không phù hợp với sự khác biệt về vóc dáng, kích thước và chỉ số cơ thể của lao động nữ và lao động nam, từ đó làm giảm hiệu quả bảo vệ hoặc gây bất tiện trong quá trình làm việc. Vì vậy, khi quy định chi tiết và xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cần tiếp tục đặt yêu cầu phương tiện bảo vệ cá nhân, thiết bị hỗ trợ và điều kiện vệ sinh tại nơi làm việc phù hợp với đặc điểm cơ thể của người lao động và từng nhóm đối tượng.

Điều 19 dự thảo Luật quy định hằng năm người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động; đối với một số nhóm đặc thù được khám định kỳ với tần suất cao hơn; lao động nữ khi khám sức khỏe phải được khám chuyên khoa phụ sản. Đồng thời, dự thảo tách bạch khám sức khỏe định kỳ với khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, tăng cường quản lý sức khỏe lâu dài đối với người mắc bệnh nghề nghiệp, quy định trách nhiệm quản lý hồ sơ sức khỏe và bảo mật thông tin sức khỏe. Đây là biện pháp phù hợp với đặc điểm sức khỏe của lao động nữ nhưng không làm hạn chế quyền nghề nghiệp, đồng thời bảo đảm các quyền chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp áp dụng chung đối với mọi người lao động.

Bên cạnh quy định khám chuyên khoa phụ sản đối với lao động nữ, quá trình tổ chức thi hành cần bảo đảm việc khám sức khỏe và phát hiện bệnh nghề nghiệp có tính đến yếu tố giới tính, sức khỏe sinh sản và đặc điểm phơi nhiễm nghề nghiệp của cả lao động nữ và lao động nam. Cách tiếp cận này kế thừa yêu cầu đã được nhận diện từ quá trình xây dựng Luật năm 2015, nhưng được thể hiện theo hướng dựa trên nguy cơ và chỉ định chuyên môn, tránh tạo ra phân biệt đối xử hoặc quy định cứng không phù hợp với thực tiễn y khoa.

Các đại biểu tại cuộc họp

Về an toàn, vệ sinh lao động đối với một số đối tượng và hình thức làm việc đặc thù, Điều 24 dự thảo Luật quy định lao động nữ, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi, người lao động là người khuyết tật và các đối tượng đặc thù khác được bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng theo quy định của Luật này, Bộ luật Lao động và pháp luật có liên quan. Dự thảo đồng thời bao quát người học nghề, tập nghề, thử việc, học sinh, sinh viên thực hành, người nhận công việc về làm tại nhà, lao động thuê lại và các hình thức làm việc đặc thù khác. Cách tiếp cận này chuyển trọng tâm từ bảo vệ theo giới đơn thuần sang bảo vệ theo đặc điểm, điều kiện và hình thức lao động, phù hợp với yêu cầu bình đẳng giới thực chất.

So với cách tiếp cận trước đây thiên về cấm hoặc hạn chế lao động nữ làm một số nghề, công việc để bảo vệ chức năng sinh sản, dự thảo Luật sửa đổi chuyển mạnh hơn sang nguyên tắc bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng và mức độ rủi ro. Cách tiếp cận này góp phần hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ sức khỏe với quyền lựa chọn việc làm, giảm nguy cơ hình thành rào cản việc làm đối với phụ nữ, đồng thời đặt yêu cầu bảo vệ phù hợp đối với cả lao động nam khi cùng làm việc trong môi trường có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại.

Bà Ngô Diệu Linh, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác thanh niên và Bình đẳng giới, Bộ Nội vụ

Trình bày báo cáo xác định vấn đề giới và bảo đảm bình đẳng giới trong các quy định của dự thảo Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi), bà Ngô Diệu Linh, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác thanh niên và Bình đẳng giới, Bộ Nội vụ ghi nhận dự thảo Luật đã có những bước tiến đáng kể trong việc lồng ghép giới, thể hiện ở các quy định về cấm phân biệt đối xử, chăm sóc sức khỏe đặc thù cho lao động nữ, bảo vệ nhóm yếu thế, mở rộng đối tượng bảo hộ đối với lao động giúp việc gia đình và lao động nhận việc về nhà làm – vốn là nhóm đối tượng mà nữ giới chiếm đa số nhưng trước đây ít được bảo hộ.  

Tuy nhiên, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác thanh niên và Bình đẳng giới nhận định việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo Luật còn mang tính nguyên tắc chung và thiếu cơ chế thực thi mang tính nhạy cảm giới. Vì vậy, đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung một số nội dung như: bổ sung thu thập và quản lý dữ liệu theo giới tính trong các điều khoản về cơ sở dữ liệu và thống kê (Điều 27, Điều 51 và Điều 58); bổ sung nội dung phòng chống quấy rối tình dục và bạo lực trên cơ sở giới tại nơi làm việc vào phạm vi của luật; bổ sung các quy định về trang thiết bị bảo vệ cá nhân phù hợp với đặc điểm sinh học của các giới; đánh giá rủi ro và điều kiện làm việc nhạy cảm giới đối với lao động nữ mang thai và nuôi con nhỏ.

Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Thanh Cầm

Tham gia đóng góp ý kiến tại cuộc họp, các đại biểu, chuyên gia đánh giá cao việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi), tuy nhiên nhận định các quy định hiện hành đang chú trọng vào khía cạnh thể chất (thương tật, tử vong) mà chưa quan tâm đúng mức đến sức khỏe tinh thần. Do đó, kiến nghị bổ sung nội hàm “an toàn tinh thần” vào khái niệm an toàn lao động và coi đây là một phần không thể tách rời của văn hóa an toàn lao động tại nơi làm việc.

Về Nguyên tắc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động (Điều 5) và Quyền và nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động (Điều 6), các đại biểu nhấn mạnh, bên cạnh việc lấy phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp làm trọng tâm, cần bổ sung thêm nội hàm “nâng cao sức khỏe của người lao động”. Với quy định về ứng cứu khẩn cấp, đề nghị cân nhắc cần có nguyên tắc ưu tiên hoặc quy trình đặc thù cho các đối tượng dễ bị tổn thương như lao động nữ đang mang thai trong các tình huống ứng cứu khẩn cấp.

Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc Leo Thị Lịch

Liên quan tới quy định về Chăm sóc sức khỏe người lao động (Điều 19), có ý kiến cho rằng, việc quy định lao động nữ được khám chuyên khoa phụ sản là rất cần thiết, nhưng cần tiếp cận rộng hơn từ góc độ bình đẳng giới. Nêu lên thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang tổ chức khám sức khỏe định kỳ theo kiểu “cào bằng” cho tất cả mọi người, các đại biểu đề nghị Điều 19 cần làm rõ: việc khám và chăm sóc sức khỏe phải phù hợp với giới tính, độ tuổi, đặc điểm nghề nghiệp và các yếu tố nguy cơ.

Về lồng ghép giới trong chăm sóc sức khỏe người lao động, các đại biểu cho rằng cần có những quy định đặc thù không chỉ cho phụ nữ mà cho cả nam giới; rà soát kỹ các yếu tố nhạy cảm giới, ví dụ như tác động của hóa chất độc hại đến khả năng sinh sản của cả lao động nam và nữ.

Về Quản trị rủi ro và kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc (Điều 15), ý kiến đại biểu đề nghị lồng ghép giới một cách thực chất bằng cách bổ sung yêu cầu: việc đánh giá nguy cơ rủi ro phải tính đến các đặc điểm cụ thể của người lao động bao gồm giới tính, độ tuổi, tình trạng sức khỏe, đặc điểm thể chất và tính chất công việc.

Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội Đỗ Hoàng Việt

Các ý kiến đánh giá cao Điều 12 dự thảo Luật đã bổ sung “người làm việc không có quan hệ lao động tại địa phương” vào đối tượng được thông tin, tuyên truyền, giáo dục về an toàn, vệ sinh lao động, bởi đây là nhóm đối tượng rất dễ bị tổn thương vì thiếu các cơ chế, đoàn thể bảo vệ trực tiếp. Đồng thời lưu ý việc quan tâm tới nhóm đối tượng này phải mang tính xuyên suốt, từ tuyên truyền, huấn luyện, hỗ trợ cho đến khi có tình huống khẩn cấp xảy ra.

Ngoài ra, đề nghị xem nhóm lao động tự do này là “đối tượng đặc thù” cùng với lao động là người dân tộc thiểu số. Với người dân tộc thiểu số, các quy trình hỗ trợ cần được thiết kế riêng biệt, phù hợp với ngôn ngữ và văn hóa đặc trưng.

Các đại biểu, chuyên gia đóng góp ý kiến tại cuộc họp

Các đại biểu cũng quan tâm tới việc đảm bảo công bằng, bình đẳng trong chế độ hậu tai nạn lao động; đề xuất cần xem xét, đánh giá tác động kinh tế đối với người bị thương tật nặng do tai nạn lao động và cân nhắc quy định các chế độ tương tự thương binh, bệnh binh đối với người mất từ 70-90% sức lao động.  

Các ý kiến cũng đề cập tới tính hai chiều của bình đẳng trong quan hệ lao động, đó là bình đẳng không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ người lao động mà còn phải bao hàm cả người sử dụng lao động. Cụ thể, nếu người sử dụng lao động bị xâm hại hoặc chịu thiệt hại do lỗi trực tiếp từ phía người lao động, họ cũng cần được đánh giá và hưởng các chính sách bình đẳng tương ứng. Do vậy, cần làm rõ quyền lợi của cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng lao động trong dự thảo Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) để đảm bảo tính khách quan và công bằng.

Các đại biểu, chuyên gia đóng góp ý kiến tại cuộc họp

Phát biểu kết luận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Trần Thị Thanh Lam đánh giá dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) là một dự án luật khó, với phạm vi rộng, đối tượng lớn và phụ thuộc nhiều vào ý thức xã hội cũng như ý thức cá nhân của người lao động và người sử dụng lao động. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Trần Thị Thanh Lam yêu cầu cơ quan soạn thảo rà soát kỹ để đảm bảo tính tương thích với các luật chuyên ngành khác như Bộ luật Lao động, Luật Việc làm, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng… Đồng thời, ban soạn thảo cần bám sát các định hướng của Đảng, cụ thể là Chỉ thị số 31 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác an toàn, vệ sinh lao động trong tình hình mới.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Trần Thị Thanh Lam phát biểu kết luận

Nhấn mạnh quan điểm chung là cần sửa đổi một cách tổng thể dự án Luật sau hơn 10 năm thực hiện để phù hợp với tình hình mới, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Trần Thị Thanh Lam nêu rõ cần mở rộng khái niệm “an toàn lao động”, bao hàm cả an toàn về tinh thần và các vấn đề xã hội khác. Thực tế hiện nay, rủi ro và tai nạn lao động đang nảy sinh ở cả những lĩnh vực trước đây vốn được coi là an toàn như y tế hay giáo dục, do đó cần nhìn nhận một cách tổng thể hơn trong quá trình sửa đổi Luật. Ngoài ra, cần làm rõ các quy định đối với đối tượng lao động không có quan hệ lao động và người lao động làm việc ở nước ngoài.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Trần Thị Thanh Lam cũng đề nghị dự thảo Luật cần đánh giá rõ các điều kiện đảm bảo thực hiện, bao gồm cả nguồn lực tài chính, nhân lực và năng lực của địa phương để đảm bảo tính khả thi khi Luật được ban hành.

Dự kiến, dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI vào cuối năm nay.

Kim Ngọc – Nguyễn Hùng

Nguồn: https://quochoi.vn/