Hóa chất có thể ảnh hưởng đến cơ thể như thế nào
|
Triệu chứng |
Nguyên nhân thông thường |
|
Đầu Chóng mặt, đau đầu |
Dung môi, sơn, ozone, khói (kể cả thuốc lá) |
|
Mắt Đỏ, chảy nước mắt, ngứa, mộng, nhức |
Khói, khí và hơi, khí bụi, tia cực tím (UV) , sơn, chất tẩy rửa |
|
Mũi và họng Sổ mũi, ho, viêm họng |
Khói, khí ozone, dung môi, bụi, sơn, chất tảy rửa |
|
Ngực và phổi Thở khò khè, ho, khó thở, ung thư phổi |
Khói kim loại, bụi, khói, dung môi, sơn, chất tẩy rửa |
|
Dạ dầy Buồn nôn, nôn, đau dạ dày |
Một số khói kim loại, dung môi, sơn, phơi nhiễm lâu với chì |
|
Da Đỏ da, khô da, mẩn, ngứa, ung thư da |
Dung môi, tia xạ, chromium, nickel, thuốc tẩy và thuốc rửa, sơn |
|
Hệ thần kinh Sốt ruột, dễ cáu giận, mất ngủ, rùng mình |
Phơi nhiễm lâu ngày với dung môi, Phơi nhiễm lâu dài với chì |
|
Hệ sinh sản Đàn ông: Lượng tinh trùng thấp, tinh trùng bị tổn thương Phụ nữ: Kinh nguyệt không đều, đẻ non, trứng hoặc bào thai bị tổn thương |
Chì, toluene và một số dung môi khác, tia xạ, ethylene oxide |
Liều lượng: Điều gì tác động tới nguy cơ?
|
Yếu tố ảnh hưởng tới việc liệu người lao động bị phơi nhiễm có ốm hay không |
Ví dụ |
|
1. Hóa chất độc hại đến mức nào? |
Hóa chất càng độc hại, thì càng có nhiều khả năng nó gây ra các vấn đề sức khỏe, ngay cả trong trường hợp khối lượng nhỏ. Cồn Methyl, có thể gây mù lòa, lại có độc tính hơn cồn ethyl, một chất có thể dùng trong đồ uống có cồn. Methylene chloride và acetone đều là dung môi, nhưng methylene chloride có độc tính cao hơn. |
|
2. Lượng hóa chất mà một người lao động bị phơi nhiễm (tức là trong không khí người đó hít thở, hoặc có tiếp xúc với da hay miệng) |
Acetone là một dung môi công nghiệp có thể dùng trong chất tảy màu móng tay. Một người lao động sử dụng nhiều acetone sẽ có nguy cơ cao hơn so với người sử dụng ít chất tảy móng tay. |
|
3. Người lao động phơi nhiễm với hóa chất trong bao lâu? |
Một người lao động nào đó có thể làm việc với một hóa chất trong nửa tiếng mỗi ngày, trong khi đó người khác lại làm việc với nó 8 tiếng mỗi ngày. Hay, ai đó có thể phơi nhiễm trong một tháng, trong khi đó một người khác phơi nhiễm hơn 20 năm. |
|
Yếu tố ảnh hưởng tới việc liệu người lao động bị phơi nhiễm có ốm hay không |
Ví dụ |
|
4. Hóa chất thẩm thấu vào cơ thể qua đường nào (đường thẩm thấu) |
Một số hóa chất, như thuốc trừ sâu parathion, có tính độc hại cao, cho dù qua đường da, thở, hay tiêu hóa. Mặt khác, bụi a-mi-ăng chỉ có hại khi qua đường hít thở. Ví dụ, một ngôi nhà có tấm lợp fibro-xi-măng, nhưng nếu tấm lợp không bị hủy hại, thì a-mi-ăng không trở thành bụi trong không khí, nó sẽ không bị hít thở vào cơ thể, nên không gây hại. |
|
5. Yếu tố cá thể (ví dụ, di truyền, tầm vóc cơ thể, tuổi tác, có hút thuốc, uống rượu hay không, dị ứng, mẫn cảm, phơi nhiễm với hóa chất khác) |
Chì là chất có độc hại cao đối với trẻ em hơn người lớn, bởi vì nó ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ và hệ thần kinh trung ương. Nếu 2 người làm việc với a-mi-ăng, mà một người hút thuốc thì nguời đó có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn người không hút thuốc. |
Ảnh hưởng của hỗn hợp hóa chất
Nguy cơ của bạn sẽ cao hơn, nếu bạn phơi nhiễm với hơn một hóa chất. Có thể có tương tác giữa các loại hóa chất với nhau. Hai hóa chất khác nhau có thể cùng tạo ra một hậu quả tồi tệ hơn nhiều so với một chất riêng lẻ. Điều này được gọi là Hiện tượng hiệp trợ. Ví dụ:
– Người lao động tiếp xúc với a-mi-ăng, thì nguy cơ bị ung thư phổi cao gấp 5 lần so với người bình thường
– Người hút thuốc, nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn 10 lần so với bình thường.
– Công nhân hút thuốc làm việc với A-mi-ăng có nguy cơ mắc ung thư phổi gấp 50 lần so với người bình thường.
Mùi của hóa chất
Việc ngửi mùi hóa chất có đồng nghĩa với việc phơi nhiễm ảnh hưởng tới bạn không?
Một số hóa chất có thể được ngửi với mức độ dưới mức nguy hiểm. Việc ngửi hoặc phát hiện có mùi hóa chất không có nghĩa là bạn đã hít vào một lượng hóa chất đủ hại. Ví dụ, về một số hóa chất có mùi nặng nhưng dưới ngưỡng cho phép là một số dung môi như acetone hoặc methyl ethyl ketone. Mặt khác, một số hóa chất có thể hiện diện mà không có mùi. Một số hóa chất không thể được ngửi tại mức nguy hại.
Phần nói về ngưỡng phơi nhiễm nghề nghiệp sẽ giải thích thêm về cách thức đo lường hóa chất tại nơi làm việc, và ngưỡng phơi nhiễm được phát triển như thế nào.
Ngưỡng mùi là gì?
– Ngưỡng về mùi là mức thấp nhất mà tại đó người ta có thể ngửi một hóa chất được. Nếu ngưỡng mùi của một hóa chất thấp hơn mức nguy hiểm, thì hóa chất đó được coi là có thuộc tính báo hiệu tốt. Một ví dụ là ac-mo-ni-ác. Phần lớn người ta có thể ngửi được ac-mô-ni-ác tại mức rất thấp.
– Đối với nhiều hóa chất, ngưỡng mùi lại khác nhau tùy thuộc từng người. Hơn nữa, một số hóa chất, như hydrogen sulfide, lại gây cho ta mất khả năng ngửi. Điều này được gọi là olfactory fatigue (giảm khứu giác).
Mùi của hóa chất chỉ là một đầu mối để người ta có thể nghĩ bị phơi nhiễm.
– Không nên chỉ dựa vào mùi của hóa chất mà suy đoán là hóa chất đó có độc hại hay không. Nên nhớ rằng khứu giác của bạn có thể tốt hơn hoặc tồi hơn khứu giác của nguời bình thường. Một số hóa chất rất độc hại, như carbon monoxide (khí thải từ xe ô-tô) không có mùi. Một số hóa chất như dung môi có thể có mùi thậm chí tại ngưỡng phơi nhiễm rất thấp. Điều quan trọng là cần phải có thêm thông tin về một loại hóa chất đặc biệt nào đó kể cả giới hạn phơi nhiễm, kết quả theo dõi và hậu quả về sức khỏe nhằm hình dung ra liệu việc phơi nhiễm có thể gấy hại cho bạn hay không.
(Nguồn tin: Tài liệu dự án NILP-OSB)
