Thay thế hoá chất độc hại- cân nhắc việc chọn lựa

Thứ Sáu, 01/12/2023, 04:26 Chiều

Trước khi quyết định thay một loại hoá chất, cần phải nắm rõ nguy cơ mà hoá chất đó có thể gây ra đối với NLĐ, với môi trường và phá huỷ thiết bị, máy móc.

Tại sao thay thế hoá chất độc hại lại có tầm quan trọng?

Việc thay thế vật liệu hiện đang sử dụng bằng vật liệu khác ít độc hại hơn là một trong những biện pháp hiệu quả nhất để loại trừ hoặc giảm thiểu tiếp xúc với hoá chất độc hại hoặc các nguy cơ khác. Nguy cơ là nguồn gốc của sự nguy hiểm hoặc gây tai hoạ. Nguy cơ có thể là bất kỳ hoá chất hoặc vật liệu có khả năng hoặc có tính chất gây tác động xấu tới sức khoẻ hoặc có hại tới con người trong những điều kiện nhất định. Rủi ro là xác suất mà khi tiếp xúc với hoá chất độc hại sẽ gây hiểm hoạ cho con người hoặc tác động xấu tới sức khoẻ con người.

Các biện pháp vệ sinh công nghiệp khác dùng để kiểm soát sự tiếp xúc của NLĐ với hoá chất gồm: cách ly, bao kín, thông gió cục bộ, cải tiến quy trình hoặc thiết bị, làm vệ sinh sạch sẽ, kiểm soát hành chính và phương tiện bảo vệ cá nhân. Tất cả những biện pháp này làm giảm thiểu hoặc loại trừ nguy cơ tai nạn lao động bằng cách can thiệp vào sự tiếp xúc của NLĐ với các chất nguy hại. Việc thay thế sẽ loại trừ nguy cơ ngay từ nguồn phát sinh.

Tại sao việc thay thế hoá chất độc hại cần phải chọn lựa rất cẩn thận?

Điều cực kỳ phải chú ý là không thay thế một loại nguy cơ này bằng một loại nguy cơ khác, đặc biệt khi chất thay thế còn nguy hại hơn. Trước khi quyết định thay một loại hoá chất, cần phải nắm rõ nguy cơ mà hoá chất đó có thể gây ra đối với NLĐ, với môi trường và phá huỷ thiết bị, máy móc. Nếu nguy cơ đó là nghiêm trọng thì bắt buộc phải xem xét kỹ và phải nắm rất vững bản chất của nó.

Việc lựa chọn một chất thay thế là một quy trình rất phức tạp. Ở các công ty lớn, quá trình lựa chọn phải do một Ban thực hiện; ban gồm đại diện từ bộ phận kỹ thuật, mua hàng, vệ sinh công nghiệp, an toàn, bảo dưỡng, nghiên cứu và phát triển, kiểm soát môi trường, quản lý chất thải, nhập hàng, giám sát môi trường và NLĐ-những người trực tiếp làm việc với hoá chất. Ở các công ty nhỏ hơn, một người có thể đảm nhiệm nhiều chức năng kể trên.

Những yếu tố nào cần xem xét về tính phù hợp của hoá chất dự định thay thế?

1. Tính hiệu quả. Liệu hoá chất mới có đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật đối với công việc hoặc quy trình sản xuất (ví dụ: tính hoà tan, thời gian khô…)?

2. Tính tương thích. Hoá chất mới không được cản trở hoặc phản ứng với quy trình sản xuất, với các vật liệu khác hoặc không được tác động lên thiết bị.

3. Các biện pháp kiểm soát hiện có. Các biện pháp kiểm soát hiện có có thể không phù hợp để kiểm soát hoá chất mới (ví dụ: chất mới thay thế tuy ít độc hại hơn nhưng lại bay hơi nhiều hơn do đó hệ thống thông gió hút cục bộ không đủ khả năng thu bắt toàn bộ hơi khí toả ra).

4. Thải bỏ chất thải. Liệu hệ thống thải bỏ chất thải hiện có có đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn đối với chất thải do hoá chất mới tạo ra?

5. Đánh giá nguy cơ. Cần có đánh giá nguy cơ để quyết định liệu có nên thay một hoá chất hay vật liệu khác hay không

Một số điểm cần xem xét khi thực hiện đánh giá nguy cơ

Cần sử dụng bảng chỉ dẫn an toàn hoá chất (MSDS) và các nguồn thông tin về hoá chất khác để so sánh nguy cơ các loại hoá chất khác nhau. Để dễ so sánh, nên lập thành bảng với các tiêu chí sau đối với từng loại hoá chất sẽ thay thế. Các tiêu chí đó là:

1. Áp suất bay hơi. Áp suất bay hơi là chỉ số để nói lên mức độ bay của hơi hoá chất vào trong không khí. Tiếp xúc qua việc hít khí bay hơi là phương thức tiếp xúc đầu tiên đối với nhiều loại hoá chất; do vậy nồng độ hơi trong không khí có ảnh hưởng rất lớn tới mức độ tiếp xúc. Nếu dung môi có mức độ bay hơi ít (không dễ bay hơi) thì khả năng tiếp xúc qua hít thở sẽ rất thấp.

2. Tác động tới sức khoẻ trong thời gian ngắn. So sánh giá trị độc học với động vật thí nghiệm của nhiều hoá chất khác nhau có thể cho ta độc tính tương đối của các hoá chất đó (ví dụ tác động xảy ra nhanh).  Ví dụ về số liệu độc học gồm LD50 và LC50 (LD =liều gây chết; LC= nồng độ gây chết; 50 là 50% số động vật thí nghiệm tiếp xúc với hoá chất bị chết). Nên nhớ rằng độc tính có thể biến đổi trong khoảng rất rộng giữa các cá thể động vật. Ngoài ra, tác động sinh học hoặc ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ do tiếp xúc với hoá chất nồng độ cao trong thời gian ngắn có thể không giống như người tiếp xúc với nồng độ thấp nhưng thời gian dài. Ví dụ: 2 loại hoá chất hydrocacbua thơm mạch vòng là Benzen và Toluen có cùng tính chất độc hại cấp tính như nhau nhưng Benzen thì gây ung thư nếu tiếp xúc thời gian dài hoặc gây độc mãn tính. Giới hạn tiếp xúc nghề nghiệp, ví dụ giá trị giới hạn ngưỡng (LTV) mà Hiệp hội những nhà vệ sinh công nghiệp Mỹ đưa ra không được dùng để so sánh hoá chất vì cơ sở để xây dựng các giá trị này rất khác nhau với các hoá chất khác nhau (ví dụ việc bảo vệ chống kích thích, nồng độ làm bất tỉnh hay nguy hại tới sức khoẻ). Cuốn cẩm nang về giá trị giới hạn ngưỡng LTV cũng khuyến cáo rằng nó không phải là chỉ số tương đối về độc tính của hoá chất.

3. Tác động tới sức khoẻ trong thời gian dài. Tác động tới sức khoẻ trong thời gian dài, ví dụ bệnh phổi mãn tính có tính nghiêm trọng hơn so với tác động tới sức khoẻ trong thời gian ngắn.

4. Độc tính tới da. Phải kiểm tra cả 2 nguy cơ là gây kích thích trực tiếp và gây dị ứng. Một khả năng nữa cũng cần xem xét là ngoài việc hít phải hơi hoá chất, một số dung môi có thể được hấp thu qua da khi tiếp xúc. Tiếp xúc qua da có thể góp phần rất đáng kể lượng hoá chất xâm nhập vào trong cơ thể.

5. Nhạy cảm với đường hô hấp. Nếu hít thở liên tục với hơi hoá chất có thể gây ra phản ứng quá mẫn cảm, ví dụ gây hen; khi đó các biện pháp kiểm soát đặc biệt cần được áp dụng để xử lý hơi hoá chất đó.

6. Khả năng gây ung thư và ảnh hưởng tới sinh sản. Nếu có đủ bằng chứng chứng tỏ rằng hợp chất đó có thể gây ung thư và ảnh hưởng tới khả năng sinh sản thì phải có các biện pháp cảnh báo đặc biệt.

7. Nguy cơ gây cháy nổ. Nguy cơ cháy nổ là những tính chất vật lý phổ biến nhất mà hoá chất hay gây ra. Các tính chất vật lý cần xem xét là: áp suất bay hơi, nhiệt độ tự cháy, điểm phát sáng, giới hạn bắt lửa và phản ứng.

Mặc dù thay thế hoá chất là phương pháp trực tiếp hay dùng nhất để giảm thiểu nguy cơ tác hại nhưng không phải lúc nào cũng nên áp dụng. Trước khi quyết định thay thế bất kỳ loại hoá chất nào cần cân nhắc thận trọng xem liệu hoá chất mới có gây ra các nguy cơ tới sức khoẻ NLĐ lớn hơn hoá chất hiện đang dùng hay không.

Các bước tiến hành để tìm hiểu một hoá chất mới

Uỷ ban An toàn sức khoẻ Vương quốc Anh (HSE) khuyến cáo quy trình 7 bước để xem xét một hóa chất thay thế, đó là:

1. Nhận diện nguy cơ và đánh giá rủi ro. Đây là bước liên quan đến nhận định liệu hoá chất/quy trình đang sử dụng có nguy cơ không. Liệu có rủi ro lớn liên quan đến việc lưu giữ, sử dụng hoặc thải bỏ chất đó không?  Nguy cơ được định  nghĩa là “khả năng một chất hoặc một quy trình sản xuất làm hại ai đó hoặc huỷ hoại môi trường”; còn rủi ro là “xác suất nguy cơ đó xảy ra”.

2. Nhận diện hoá chất thay thế. Tìm hiểu trong phạm vi rộng các lựa chọn. So sánh tất cả các thông tin về đánh giá nguy cơ như đã đề cập ở phần trước. So sánh các trạng thái khác nhau của hoá chất (ví dụ ở dạng hạt có tạo ít bụi hơn ở dạng bột?) đồng thời xem xét liệu công việc đó có cần đến hoá chất đó không (ví dụ phần việc đó có thể thay thế thay vì làm sạch?). Nếu bạn là người cung cấp hàng hoá, bạn sẽ cần lựa chọn các phương án theo nhu cầu của khách hàng cũng như người làm công của công ty bạn.

3. Hãy suy nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra nếu sử dụng hoá chất thay thế. Điều quan trọng là bạn thu thập đầy đủ thông tin hiện có trước bước này để bạn có thể cân nhắc điểm tốt, điểm bất lợi của lựa chọn. Hãy nhớ rằng bạn cũng phải hình dung xem cái cách mà NLĐ sử dụng nó và cách thức tiếp xúc nó. Khi lựa chọn phương án thay thế hoá chất, những thay đổi sau cần thực hiện:

– Cách thức mà công việc sẽ tiến hành;

– Loại thiết bị/bộ phận thiết bị cần tương thích với hoá chất thay thế (ví dụ Vòng chữ O, gioăng đệm);

– Hệ thống thông gió;

– Phương pháp thải bỏ;

– Các tiêu chuẩn phải áp dụng.

4. So sánh các hoá chất thay thế. Ở bước này, hãy so sánh các hoá chất thay thế với nhau và với hoá chất/quy trình sản xuất đang sử dụng. HSE nhận thấy rằng rất khó so sánh nguy cơ của một hoá chất dễ cháy với một hoá chất khác rất độc hại. Họ khuyến cáo nên suy nghĩ theo cách đơn giản, ví dụ “chất thay thế có gây nổ không hay có gây ngộ độc không?  Nó chỉ ảnh hưởng tới những người làm việc trực tiếp hay cả những người xung quanh trong khu vực đó?”. Cũng cần xem xét xem hoá chất đó được sử dụng ở đâu và như thế nào.

5. Quyết định xem liệu có cần thay thế không. Bước này là khó khăn nhất. Nên nhớ rằng việc thay thế một bước trong một quy trình sản xuất sẽ ảnh hưởng tới các bước khác. Hãy tư vấn NLĐ trực tiếp trên dây chuyền trước khi ra quyết định. Sẽ là thông minh hơn nếu bạn thử nghiệm trước hoặc làm thử ở quy mô nhỏ.

6. Đưa vào ứng dụng. Xây dựng kế hoạch thay thế một cách cẩn thận. Hãy huấn luyện và đào tạo NLĐ liên quan đến việc thay thế.

7. Đánh giá việc thay thế. Hãy kiểm tra xem liệu việc thay thế có đưa đến được kết quả như mong muốn không. Bạn có thể thực hiện việc đánh giá thông qua giám sát sức khoẻ NLĐ, giám sát mức độ ô nhiễm không khí hoặc đáp ứng các quy định về môi trường qua các thông số cần đo đạc.

Biên dịch: P. Hải


(Nguồn tin: Canada Center for OHS)