Các chất độc nguy hại thường gặp – Phần 1
1. Cacbon oxyt (CO): Là chất khí không màu, không mùi, nhẹ hơn không khí, ít tan trong nước, hình thành khi các nhiên liệu bị đốt cháy không hoàn toàn, ngọn lửa màu xanh lơ, tỷ lệ có nơi tới 0,6‰.
Trong lao động hít phải lượng cacbon oxyt vào cơ thể, chất này kết hợp với hemoglobin của máu tạo thành cacbonxy hemoglobin (HbCO), một chất bền vững ngăn cản vận chuyển oxy tới các tế bào của tổ chức cơ thể gây tình trạng thiếu oxy, nạn nhân có thể bị chết ngạt rất nhanh. Khả năng kết hợp của cacbon oxyt với hemoglobin rất mạnh, nồng độ cacbon ôxít cao còn chiếm chỗ của oxy trong không khí. Chính vì thế mà nó rất nguy hiểm.
Nồng độ tối đa cho phép trung bình 8 giờ là ≤ 20mg/m3 không khí hoặc ≤ 40mg/m3 không khí cho từng lần tiếp xúc.
Tiếp xúc với liều cao có thể gây nhiễm độc cấp tính, biểu hiện: nhức đầu dữ dội, chóng mặt, đau thắt ngực, khó thở, buồn nôn, yếu cơ, động tác không chính xác. Nếu không kiểm soát được để cấp cứu kịp thời, nạn nhân có thể bị co giật, hôn mê, rối loạn nhịp thở đưa đến ngừng thở. Nồng độ HbCO ở mức 30-40% nạn nhân bị ngất và ở 40-50% nạn nhân bị hôn mê, co giật.
Nếu tiếp xúc với nồng độ trên giới hạn cho phép có thể gây Bệnh nhiễm độc cacbonmonoxyt nghề nghiệp (bệnh được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội). Vì vậy phải tổ chức khám định kỳ. Khám lần đầu thời gian tiếp xúc 6 tháng. Khám lâm sàng: hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ thống hạch bạch huyết. Xét nghiệm máu: định lượng HbCO hoặc định lượng nồng độ CO máu, đo điện tim, đánh giá chức năng cơ… Khám định kỳ sau 12 tháng khám lại một lần cũng khám lâm sàng và làm xét nghiệm như lần đầu.
Biện pháp dự phòng là phải cung cấp đủ oxy khi đốt cháy và thông gió tốt.
2. Khí Sunfua Hydro (H2S)
Khí này là sản phẩm của các chất hữu cơ bị thối rữa, không màu, mùi trứng thối, bay hơi nhanh, nặng hơn không khí, cực kì dễ cháy.
Hít phải khí này với liều cao gây nhiễm độc cấp tính, biểu hiện: Ho, đau đầu, hoa mắt, buồn nôn, khó thở nếu không kiểm soát được để cấp cứu kịp thời, có thể gây hôn mê dẫn đến tử vong do ngăn cản việc sử dụng oxy.
Tiếp xúc với liều thấp hơn gây dị ứng da, mắt, phế nang phổi, gây phù phổi, khí này gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương mạnh mẽ.
Giới hạn tiếp xúc trong 8 giờ là 10mg/m3 không khí, tiếp xúc từng lần một là 15mg/m3 không khí.
3. Các oxyt nitơ (NO, NO2, N2O3)
Các oxyt nitơ gặp hơi nước trong không khí tạo thành axit nitơric (HNO3) có thể gây mưa axit tác động mạnh đến môi trường sống. Người lao động làm việc hít phải liều cao có thể gây nhiễm độc cấp tính, biểu hiện: ho dữ dội, nhức đầu, rối loạn tiêu hoá, vài giờ sau thấy tức ngực, khó thở. Nếu không kiểm soát để cấp cứu kịp thời dẫn đến ngạt thở đưa đến tử vong.
Hít phải khí này với liều lượng trên hơn giới hạn tiếp xúc gây viêm phế quản, thiếu máu, hỏng răng, giảm khả năng miễn dịch, và tạo cơ hội cho bệnh lao phát triển, bệnh tim mạch sẽ tiến triển nhanh hơn.
Nồng độ cho phép tiếp xúc trong 8 giờ với NO là 10mg/m3, NO2 là 5mg/m3 không khí.
4. Dioxyt cacbon (CO2), mêtan (CH4) và nitơ gây ngạt đơn giản
Dioxyt cacbon thường gọi là thán khí phát sinh trong quá trình đốt cháy nhiên liệu (dầu, than đá, củi,…), các chất hữu cơ thối rữa, hơi thở của người, của động vật và thực vật cũng thải ra, có ở vỏ trái đất, trong hầm lò, suối khoáng, núi lửa, dưới giếng sâu không có nước, trong cống ngầm. Nguy hiểm là chúng nặng hơn không khí, tích tụ nơi tù túng.
Nơi làm việc bị tù túng, thán khí bị tích tụ chiếm chỗ của oxy, gây thiếu dưỡng khí (O2) trong không khí. Nếu tỷ lệ thán khí vượt quá 3% trong không khí sẽ tác động đến sức khoẻ, gây nhức đầu, khó thở, tim phải đập nhanh, huyết áp có thể tăng lên. Nếu nồng độ CO2 trên 10% có nguy cơ rủi ro đến tính mạng.
Lượng thán khí cao trong khí quyển làm biến đổi khí hậu và gây hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên…, các tảng băng trên Bắc cực sẽ tan ra chảy xuống biển làm cho nước biển dâng lên, gây hậu quả thật ghê gớm… Nồng độ trong khí quyển cao làm khí hậu thay đổi, gây mất cân bằng sinh thái, có thể gây thảm họa như bão lụt, sóng thần.
Mê tan là sản phẩm của các chất hữu cơ bị thối rữa, có trong mỏ than, mêtan có mùi đặc trưng, cực kỳ dễ cháy, khí này nhẹ hơn không khí tích tụ trên cao, nguy hiểm nhất là gây cháy nổ mãnh liệt. Nếu cháy nổ trong hầm lò có thể gây sập hầm và cháy hết ôxy (có tới 65% nạn nhân chết do sự cố cháy nổ là thiếu ôxy, gây ngạt thở không ra kịp).
Nitơ có nhiều trong không khí, khi bị đốt cháy ở nơi kín khí nitơ và CO2 tích tụ lại, nitơ có nhiều trong hầm lò chiếm chỗ của ôxy gây ngạt, nhức đầu, chóng mặt.
Biện pháp dự phòng là phải thông gió thật tốt, kiểm tra nồng độ thường xuyên.
5. Khí sunfuadioxyt (SO2)
Là khí không màu, có mùi nồng nặc, nặng hơn không khí, phản ứng với nước hoặc hơi nước tạo thành H2SO3 rồi chuyển thành H2SO4, axít này sẽ phá huỷ máy, thiết bị sản xuất, kể cả môi trường sinh thái. Khí này dùng để tẩy trắng, diệt côn trùng, xông hơi, sử dụng trong công nghiệp giấy, lọc dầu, luyện kim…
Hít phải SO2 với liều cao gây ho, co thắt phế quản dẫn đến khó thở, thở gấp, đau họng, nếu hít vào một lượng lớn hơn nữa, khí này vào máu tạo methemoglobin gây ngạt thở đột ngột đưa đến tử vong.
Tiếp xúc trong thời gian ngắn gây ho, buồn nôn, nôn mửa, chảy nước mắt có thể gây phù phổi, loét vách ngăn mũi, chảy máu mũi, gây co thắt phế quản, thanh quản có thể bị tử vong.
Tiếp xúc với liều thấp lặp đi lặp lại nhiều lần có thể gây hen phế quản, viêm màng tiếp hợp mắt, dãn phế nang phổi, suy tim.
Giới hạn tiếp xúc từng lần một 10mg/m3 không khí, tiếp xúc trong 8 giờ là 5mg/m3 không khí.
6. Chlorine (Cl2)
Dạng khí hoặc khí nén hoá lỏng, màu vàng hơi lục, mùi hăng, bay hơi, nặng hơn không khí, tác động mạnh đến sức khoẻ và môi trường sống.
Phản ứng mãnh liệt với bazơ gây ăn mòn, và phản ứng mãnh liệt với hợp chất hữu cơ, các bột kim loại, cao su, sơn.
Chlorine được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp như sản xuất các chất dung môi, dùng tẩy trắng, sát trùng nước…..
Giới hạn tiếp xúc trong 8 giờ 1,5 mg/m3 không khí, tối đa 1 lần 3 mg/m3 không khí.
Chlorine xâm nhập vào cơ thể với liều cao gây nhiễm độc cấp, biểu hiện: ho sặc sụa, rát họng, đau cổ họng, nhức đầu, buồn nôn, đau ngực, khó thở rồi đến thở gấp, nạn nhân có thể tử vong nếu không kiểm soát được để cấp cứu kịp thời. Tiếp xúc với chất lỏng gây bỏng da….
Tiếp xúc trong thời gian ngắn chất này ăn mòn da, niêm mạc, hít phải nhiều gây viêm phổi, phù phổi có thể gây tử vong.
Tiếp xúc với liều thấp nhiều lần có thể gây viêm phổi, viêm phế quản mãn tính, gây viêm răng lợi…
(Nguồn tin: Trích dẫn: Tài liệu huấn luyện về ATVSLĐ cho cán bộ làm công tác an toàn – vệ sinh lao động)
