Vấn đề cơ bản của kỹ thuật an toàn

Thứ Sáu, 01/12/2023, 04:47 Chiều

Kỹ thuật an toàn (KTAT) là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm gây TNLĐ đối với người lao động.

Nhóm các yếu tố nguy hiểm: Tập hợp các yếu tố nguy hiểm gây TNLĐ có cùng nguồn gốc và nguyên nhân. Yếu tố nguy hiểm là các yếu tố có thể tác động một cách đột ngột lên cơ thể người lao động gây chấn thương hoặc TNLĐ. Nhóm các yếu tố nguy hiểm.

Các yếu tố nguy hiểm gây TNLĐ trong sản xuất rất đa dạng, tuy nhiên có thể phân chia thành 5 nhóm cơ bản sau:

– Nhóm yếu tố nguy hiểm cơ học:

+ Các bộ phận, cơ cấu truyền động (đai truyền, bánh răng, trục khuỷu…).

+ Các bộ phận chuyển động quay với vận tốc lớn (đá mài, cưa đĩa, bánh đà, máy li tâm, trục máy tiện, máy khoan, trục cán ép…).

+ Các bộ phận chuyển động tịnh tiến (búa máy, máy đột dập, đầu máy bào, máy xọc, máy phay…).

+ Các mảnh dụng cụ, vật liệu gia công văng bắn (phoi, bụi vật liệu gia công hoặc các mảnh dụng cụ gẫy vỡ như: đá mài, dao cắt gọt, lưỡi cưa v.v…).

+ Vật rơi từ trên cao, gãy sập đổ các kết cấu công trình.

+ Trơn, trượt, ngã v.v…

– Nhóm yếu tố nguy hiểm về điện: Điện giật, bỏng điện, chập cháy nổ do điện, sét đánh v.v…

– Nhóm yếu tố nguy hiểm về hoá chất (thể rắn, lỏng, khí và hơi): gây nhiễm độc cấp tính (SO2, SO3, oxit cacbon: CO, CO2; oxit nitơ: NO2; hydrosunfua: H2S; hoá chất bảo vệ thực vật và các loại hoá chất độc hại khác thuộc danh mục phải khai báo, đăng ký) hoặc bỏng do hoá chất (độ 2, độ 3).

– Nhóm yếu tố nguy hiểm nổ: Nổ hoá học (nổ cháy xăng dầu, khí đốt, thuốc nổ…); nổ vật lý (nổ nồi hơi, bình khí nén…).

Nhóm yếu tố nguy hiểm về nhiệt (với môi chất truyền thể hơi, khí, lỏng, rắn): gây bỏng (nóng, lạnh); cháy do ngọn lửa, tia lửa vật nung nóng – nấu chảy,

b. Vùng nguy hiểm: Vùng tiếp xúc, làm việc của người lao động, trong đó tồn tại các yếu tố nguy hiểm và tác động một cách thường xuyên có tính chu kỳ hoặc bất ngờ, ngẫu nhiên gây TNLĐ cho người lao động nếu không có các biện pháp phòng ngừa. Một số thí dụ minh hoạ sau:

* Vùng nguy hiểm có thể gây chấn thương do cắt, cuốn kẹp, va đập như ở các cơ cấu truyền động (vùng nằm giữa dây cáp, xích cuốn vào tang tời hay puli, giữa hai bánh răng, giữa dây curoa và bánh đai, giữa hai trục cuốn của máy cán ép…).

– Các bộ phận quay tròn với vận tốc cao như bánh mài, đĩa cưa, mâm kẹp máy tiện trục chính máy khoan v.v…

– Các bộ phận chuyển động tịnh tiến theo phương đứng hoặc ngang như búa máy, chày đột dập, đầu bào, lưỡi phay.

Vùng nguy hiểm do các mảnh dụng cụ hoặc vật liệu gia công văng bắn như: vỡ đá mài, gãy răng cưa đĩa, mảnh vụn, phoi văng ra khi đập, chặt, khoan, tiện hoặc kim loại nung nóng, nấu chảy bắn ra trong công nghệ rèn, đúc…

Vùng nguy hiểm cháy nổ: xung quanh khu vực hàn (hàn điện, hàn hơi), khu vực công nghệ nồi hơi, thiết bị áp lực, khu vực khai thác, bảo quản và sử dụng các chất dễ cháy, nổ (xăng, dầu, thuốc nổ…).

Vùng nguy hiểm xung quanh khu vực sử dụng và bảo quản hoá chất độc.

* Vùng nguy hiểm xung quanh các nguồn điện hở, nguồn điện cao áp (dây điện trần, máy biến áp).

Tóm lại, yếu tố nguy hiểm cho phép nhận dạng và xác định chính xác mối nguy hiểm, còn vùng nguy hiểm cho phép xác định phạm vi ảnh hưởng và tác động của yếu tố nguy hiểm.

Nội dung cơ bản của KTAT

– Nghiên cứu phân tích các nguyên nhân sự cố có thể gây tai nạn lao động trong sản xuất thông qua việc nhận dạng chính xác các yếu tố nguy hiểm cũng như xác định rõ vùng nguy hiểm đối với phạm vi ảnh hưởng và khả năng tác động của yếu tố nguy hiểm.

– Nghiên cứu đề xuất và thực hiện các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn phòng chống các yếu tố nguy hiểm gây TNLĐ trong sản xuất.

Các biện pháp cơ bản đảm bảo an toàn sản xuất

– áp dụng các cơ cấu, dụng cụ, thiết bị an toàn một cách tối ưu.

– Sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân thích hợp.

– Tổ chức huấn luyện ATLĐ cho người lao động định kỳ và phù hợp với đặc điểm cụ thể của sản xuất.

– Bố trí mặt bằng sản xuất hợp lý, thoả mãn các yêu cầu về vệ sinh công nghiệp (chiếu sáng, vi khí hậu, tiếng ồn rung động v.v…). Đảm bảo có đầy đủ các tranh ảnh, áp phích BHLĐ trong khu vực sản xuất cũng như các nội quy an toàn đối với từng máy móc, thiết bị hoặc quá trình công nghệ.

– Tăng cường cơ giới hoá và tự động hoá quá trình công nghệ quá trình công nghệ và dây truyền thiết bị.

Nguyên nhân gây TNLĐ trong sản xuất:

a. Nhóm nguyên nhân kỹ thuật:

+ Bản thân nguyên lý hoạt động làm việc của máy móc, thiết bị đã chứa đựng các yếu tố nguy hiểm và tồn tại các vùng nguy hiểm.

+ Kết cấu máy móc thiết bị không phù hợp với nhân trắc người Việt Nam.

+ Độ bền cơ – lý – hoá của kết cấu chi tiết máy không đảm bảo.

+ Thiếu các thiết bị, cơ cấu che chắn an toàn.

+ Thiếu các cơ cấu phòng ngừa quá tải: phanh hãm, khoá liên động, thiết bị khống chế hành trình; van an toàn, áp kế, nhiệt kế, ống thuỷ v.v…

+ Không thực hiện nghiêm túc các quy định an toàn trong vận hành, sử dụng máy móc, thiết bị (không kiểm nghiệm thiết bị áp lực trước khi sử dụng, không tiến hành thử tải đối với các máy búa khí nén khi làm việc; cẩu và vận chuyển vật nặng quá tải trọng cho phép của palăng, cẩu trục v.v…).

+ Thiếu phương tiện cơ giới hoá hoặc tự động hoá trong những khâu lao động nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm (như vận chuyển vật liệu nặng lên cao, cấp dỡ liệu và xỉ ở các lò luyện, nồi hơi, máy nghiền v.v…).

+ Sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân không thích hợp hoặc hư hỏng: ủng, găng tay, thảm cách điện không đúng tiêu chuẩn hoặc hư hỏng, dùng không đúng hoặc nhầm mặt nạ phòng độc…).

b. Nhóm nguyên nhân về tổ chức – kỹ thuật:

+ Tổ chức chỗ làm việc không hợp lý: không gian làm việc chật hẹp, vị trí tư thế thao tác gò bó, khó khăn…

+ Bố trí sắp đặt máy móc thiết bị sai nguyên tắc an toàn, sự cố trên một máy có thể gây nguy hiểm cho các máy khác…

+ Bố trí mặt bằng sản xuất, đường đi lại, vận chuyển không an toàn: đường đi chật hẹp, gồ ghề, các đường vận chuyển chính trong xí nghiệp cắt nhau…

+ Bảo quản thành phẩm, bán thành phẩm không đúng nguyên tắc an toàn: xắp xếp các chi tiết thành chồng quá cao, để lẫn các hoá chất có thể phản ứng…

+ Không cung cấp cho người lao động những phương tiện bảo vệ cá nhân đặc chủng, phù hợp.

+ Tổ chức huấn luyện, giáo dục bảo hộ lao động không đạt yêu cầu: tổ chức huấn luyện không đúng định kỳ, thiếu nội quy an toàn vận hành thiết bị tại chỗ, làm việc cho từng máy cũng như tranh ảnh, áp phích bảo hộ lao động trong phân xưởng sản xuất.

c. Nhóm nguyên nhân về vệ sinh công nghiệp.

+ Vi phạm các yêu cầu về vệ sinh công nghiệp, bố trí các nguồn phát sinh hơi khí bụi độc ở đầu hướng gió thịnh hành hoặc ở tầng dưới, không khử độc, lọc bụi trước khi thải.

+ Phát sinh bụi, hơi khí độc trong không khí gian sản xuất; rò rỉ từ thiết bị bình chứa, đường ống truyền dẫn; thiếu hệ thống thu khử độc ở những nơi phát sinh.

+ Điều kiện vi khí hậu xấu, vi phạm tiêu chuẩn cho phép như: nhiệt độ quá cao, quá thấp, độ ẩm cao, bức xạ lớn, không khí không được lưu thông…

+ Chiếu sáng chỗ làm việc không hợp lý, độ dọi thấp, phân bố độ rọi không đều gây chói loá, lấp bóng…

+ Tiếng ồn, rung động vượt tiêu chuẩn cho phép.

+ Phương tiện bảo vệ cá nhân không đảm bảo các yêu cầu vệ sinh, gây bất tiện cho người sử dụng.

+ Vệ sinh công nghiệp tại máy và trong phân xưởng không đúng quy định.


(Nguồn tin: Nilp.vn)