Dự phòng tai nạn lao động

Thứ Sáu, 01/12/2023, 10:03 Chiều

Tai nạn lao động ( TNLĐ) là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

1. Các nguyên nhân gây TNLĐ

Biết rõ các nguyên nhân tai nạn đồng thời chủ động tìm và áp dụng mọi biện pháp khắc phục các nguyên nhân đó thì có thể phòng ngừa được tai nạn

Các nguyên nhân thì nhiều, phức tạp và khác nhau, có thể hệ thống lại như sau:

a. Do môi trường lao động

+ Môi trường lao động là khoảng không gian và những gì có trong không gian đó mà người lao động làm việc và chịu sự chi phối, ảnh hưởng của môi trường đo.

+ Trong sản xuất công nghiệp, môi trường lao động hầu như hoàn toàn do con người tạo ra (nhân tạo).

– Trước hết là người đầu tư vốn, rồi đến những thiết kế xây dựng, lắp đặt thiết bị máy móc, quản lý, tổ chức, điều hành sản xuất…

– Sau đó người lao động có thể tạo thêm các yếu tố mới trong môi trường do nhu cầu và yêu cầu sản xuất, do ý thức và tác phong lao động của bản thân, do tay nghề và kinh nghiệm…

+ Các yếu tố nguy hiểm trong môi trường lao động có thể dẫn đến tại nạn:

– Không gian lao động không thích hợp (nguyên nhân tổ chức lao động)

Chật, hẹp, thiếu hệ thống hợp lý

Lối đi lại không hợp lý

Sàn làm việc bất tiện: kém vệ sinh, có thể trơn, trượt…

Đồ vật, công cụ thiếu ngăn nắp, trật tự.

Cầu thang và tay vịn thiếu an toàn (lên máy hoặc lên tầng)

– Các thiết bị, máy móc thiếu an toàn (nguyên nhân kỹ thuật và quản lý)

Thiếu phòng ngừa, kiểm tra các bộ phận chuyển động của máy móc. Chẳng hạn các bộ phận quay, cắt, động cơ không che chắn.

Các động cơ có hệ thống truyền lực không được che bằng vật liệu bền chắc.

Nói chung, các hệ thống qui trình công nghệ và kỹ thuật không đảm bảo an toàn.

– Điều kiện vệ sinh không đảm bảo tiêu chuẩn qui đinh:

Ồn quá

Ánh sáng thiếu hoặc chói quá

Bụi, hơi khí độc quá nồng độ cho phép

Thông gió kém hoặc gió quá mạnh

b. Do phương pháp lao động

– Phương pháp lao động không hợp lý.

– Không sử dụng các trang bị bảo vệ cho cơ thể trong khi làm việc

Ví dụ:

+ Công việc phải mang giày bảo hộ thì lại mang dép hoặc săng đan

+ Vật rơi, đổ, ngã vào chân không phòng hộ.

+ Thiếu trang bị cá nhân…

c. Do người lao động (bị chi phối bởi thể chất, tâm thần và xã hội).

+ Trong phần lớn các tai nạn, yếu tố con người chiếm ưu thế

+ MTLĐ hay phương pháp lao động có thể dẫn đến các tình huống nguy hiểm nhưng chính tai nạn lại do tác động nguy hiểm của người lao động.

Yếu tố con người gây ra tai nạn có thể chia làm hai:

* Các yếu tố chung

– Giới tính:

+ Người ta thấy nam giới thường hay bị tai nạn hơn nữ giói. Có tác giả cho rằng phụ nữ khéo léo và cẩn thận hơn

+ Có những nghề nghiệp chỉ có nam giới làm

+ Đối với cùng một công việc, nói chung nữ giới thường nghĩ rằng mình không cẩn thận bằng nam giới

– Tuổi tác:

Sự thái hóa về tuổi tác, tức là trẻ quá hoặc quá già có thể dẫn đến tai nạn cho người lao động.

+ Với người lao động quá trẻ: có thể do thiếu kinh nghiệm và chưa chín chắn. Có người cho rằng người trẻ năng lượng nên hay động đậy tay chân trong lao động, dễ dẫn đến tai nạn.

+ Với người lao động quá già: Có thể do các phản xạ chậm hơn và sự khó khăn trong việc thích ứng với thay đổi mô hình lao động.

– Giáo dục, huấn luyện: Người lao động nào được huấn luyện về ATLĐ và thực hành tốt thường ít để xảy ra tai nạn

– Kinh nghiệm, tay nghề: Càng làm quen công việc, càng ít tai nạn. Tay nghề càng cao, càng tích lũy kinh nghiệm và kiến thức, càng ít tai nạn

– Kích thước nhóm lao động: Tỷ lệ tai nạn lao động trong nhóm lao động nhỏ, ít người, thường thấp hơn nhóm lao động lớn, đông người.

* Yếu tố cá nhân (riêng)

– Thái độ:

+ Dung thứ sự thực hành lao động không an toàn hoặc giữ gìn cơ sở làm việc không tốt là tạo điều kiện cho xảy ra nhiều tai nạn

+ Nhiều người lao động có thể bắt đầu làm quen với những điều kiện nguy hiểm và chấp nhận điều kiện ấy một cách bình thản, trở thành một tập quán không tốt

+ Mặt khác, những người quản lý chủ… thường nhấn mạnh quá đáng đến năng suất lao động hơn là ATLĐ

– Sự điều chỉnh cho thích hợp với công việc

+ Thế hệ lao động đầu dễ bị tai nạn

+ Những người từ nông thôn ra chưa quen với sản xuất công nghiệp rất dễ bị tai nạn

– Mệt mỏi và ốm đau

+ Mệt mỏi, nhàm chán trong lao động dễ dẫn đến tai nạn

+ TNLĐ thường ở đỉnh cao vào giữa buổi sáng, giữa trưa, những giờ đầu buổi sáng sau ca đêm

+ Ốm đau cũng là nguyên nhân gây TNLĐ

– Thiên hướng dễ bị tai nạn: Có những cá nhân có những yếu tố riêng làm cho dễ bị tai nạn hơn các cá nhân khác.

2. Dự phòng tai nạn lao động

Dự phòng TNLĐ đòi hỏi:

a. Đối với chính quyền: (Từ cấp quốc gia đến cấp cơ sở)

– Phải có hàng loạt các luật lệ bảo đảm tối thiểu các tiêu chuẩn về ATLĐ

– Thi hành luật: Tổ chức duy trì một ban thanh tra ở cơ sở. có đủ sức mạnh để bắt buộc thi hành các luật về ATLĐ

– Theo dõi, thu nhập các thông tin về TNLĐ và có các biện pháp xử lý thích hợp, kịp thời

b. Đối với những người quản lý, người thuê người lao động

– Xác định và thi hành (thực hiện) chính sách luật lệ ATLĐ

– Tham gia liên tục, duy trì và phối hợp trong chương trình ATLĐ

– Chăm sóc sự an toàn của công nhân và tổ chức ban an toàn để giám sát và thi hành chương trình ATLĐ

– Duy trì môi trường và điều kiện lao động an toàn. Tổ chức, quản lý chu đáo về hoạt động sản xuất, lường trước các mối nguy hiểm mà người lao động có thể gặp. Phân công lao động chặt chẽ, theo dõi, kiểm tra thường xuyên về kỹ thuật đối với các máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ…

– Huấn luyện và thực hành an toàn cho NLĐ khi mới làm và định kỳ, đồng thời kiểm tra việc sử dụng các trang bị ATLĐ, các biện pháp an toàn, trật tự, vệ sinh nơi làm việc.

– Tổ chức y tế, sơ cứu tại chỗ, điều trị, phục hồi…

c. Đối với tổ chức công đoàn và người lao động

– Giáo dục công nhân ý thức an toàn và tự bảo vệ mình, sử dụng hiệu quả các phương tiện bảo vệ cơ thể

– Nêu các gương tốt cho những NLĐ còn thiếu kinh nghiệm noi theo

– Toàn tâm, toàn ý tham gia công tác an toàn trong tổ chức ở cơ sở

– Bảo đảm thỏa ước với giới chủ trong hợp đồng phần có nội dung về ATLĐ, VSLĐ (hợp đồng lao động)

d. Đối với cán bộ y tế, cán bộ VSLĐ ở cơ sở

– Mọi thành viên đều có trách nhiệm tham gia dự phòng TNLĐ

– Cùng với kỹ sư an toàn, có thể cố vấn cho người quản lý, cho những giám sát, thanh tra trong chương trình ATLĐ

– Tổ chức thực hiện về chuyên môn y tế, vệ sinh (cấp cứu, điều trị, phục hồi) tại các phân xưởng và toàn xí nghiệp, công ty…)


(Nguồn tin: Theo cuốn ” Vệ sinh lao động” NXB KH&KT năm 2010)