Các yếu tố nguy cơ mất an toàn, vệ sinh lao động, biện pháp dự phòng và cách xử lý tình huống vết thương do chất thải sắc nhọn
1. Các nguy cơ từ chất thải sắc nhọn
Chất thải sắc nhọn là chất thải có thể chọc thủng hoặc gây ra các vết cắt, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế.
Các hành vi có nguy cơ mất an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến quản lý chất thải sắc nhọn bao gồm việc xử lý không đúng cách và không an toàn các chất thải sắc nhọn, đặc biệt là kim tiêm. Hộp đựng các kim tiêm đã sử dụng hoặc quá mỏng, hoặc đựng quá đầy, không có giá hoặc quai đeo để cố định, đổ kim tiêm từ hộp đựng ra để thu gom, dùng tay tháo kim, vv… Ngoài ra, nhân viên y tế trong quá trình phân loại, thu gom, xử lý kim tiêm và các vật sắc nhọn khác, không sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân như găng tay, ủng, vv.
Với các hành vi có nguy cơ mất an toàn, vệ sinh lao động trong quản lý chất thải sắc nhọn nói trên dễ dẫn đến tổn thương vật sắc nhọn trong nhân viên y tế và cho cả cộng đồng. Đây là tai nạn thương tích khá phổ biến trong các cơ sở y tế. Các nhân viên y tế bị tổn thương vật sắc nhọn, đặc biệt các vật sắc nhọn có dính máu, dịch cơ thể của các bệnh nhân mắc các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ cao lây nhiễm các mầm bệnh truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B và C.
2. Dự phòng tổn thương vật sắc nhọn
Dự phòng tai nạn nghề nghiệp cho NVYT cần quan tâm đến những việc sau: Khi thực hiện các thủ thuật có liên quan đến các vật sắc nhọn như kim tiêm, kim khâu NVYT cần chú ý đề phòng bị tổn thương do vật sắc nhọn gây nên. Cần tuyệt đối tuân thủ các hướng dẫn về thao tác an toàn trong khi thực hiện các thủ thuật và các quy định về xử lý vật sắc nhọn.
2.1. Thao tác an toàn với kim tiêm, kim khâu
– Tập trung vào công việc, không nói chuyện và không nhìn đi chỗ khác;
– Không tháo, đậy, hoặc bẻ cong kim tiêm sau khi dùng. Trường hợp kỹ thuật đòi hỏi tháo, lắp kim tiêm tách biệt khỏi bơm tiêm thì phải dùng panh. Nếu không có panh thì áp dụng kỹ thuật “múc nắp “ đậy kim để sẵn trong khay;
– Trong khi thao tác với vật sắc nhọn không để tay trước mũi kim;
– Không đi lại trong khi cầm kim tiêm, kim khâu trong tay. Nếu cần di chuyển thì kim phải được để trong khay;
– Trong khi tiêm, khâu phải đảm bảo rằng người bệnh biết cách giữ yên, không giãy dụa. Nếu người bệnh là trẻ em cần có người giúp đỡ giữ yên người bệnh;
– Trong khi tiêm không dùng tay dò tĩnh mạch phía trên da, bên ngoài mũi kim trong khi tay kia đang đẩy kim tìm mạch máu;
– Trong khi phẫu thuật không dùng tay tiếp xúc trực tiếp với vết thương, giảm thiểu việc sử dụng bàn tay ở vị trí mổ;
– Không khâu bằng tay mà phải dùng kẹp mang kim và panh để đón kim;
– Không tháo dao mổ bằng tay, dùng panh để tháo;
– Khi vật sắc nhọn (kim tiêm, kin khâu, dao mổ…) rơi, nên để chúng tự rơi, không cố đón;
– Không chuyển kim tiêm, kim khâu, dao mổ cho người khác trực tiếp bằng tay, nên chuyển qua khay;
– Không giữ bình chứa, phiến kính…bằng tay khi nhỏ dịch thể/máu của người bệnh vào. Nên để vật chứa bất động trong khay hay trên bàn, ghế… Không dùng tay để cạo vào phiến kính có mẫu xét nghiệm.
2.2. Thao tác an toàn khi huỷ bỏ kim tiêm
– Bỏ kim tiêm ngay tại nơi tiến hành tiêm;
– Huỷ kim tiêm với một động tác dứt khoát, huỷ từng cái một bằng máy huỷ kim tiêm;
– Thả toàn bộ kim tiêm vào hộp an toàn đựng vật sắc nhọn, không nên ấn kim tiêm vào thùng chứa;
– Không được vứt bỏ kim bơm tiêm vào thùng đựng rác thải sinh hoạt;
– Ở những nơi không có điều kiện huỷ bỏ bơm kim tiêm nên sử dụng bơm kim tiêm tự huỷ.
3. Xử lý tình huống vết thương do chất thải sắc nhọn
Bước 1: Xử lý vết thương tại chỗ:
Rửa vết thương ngay bằng xà phòng và nước dưới vòi nước chảy; không sử dụng nước khử khuẩn trên da; không cọ hoặc chà xát, nắn bóp khu vực bị tổn thương.
Bước 2: Báo cáo người phụ trách và làm biên bản:
NVYT bị phơi nhiễm cần báo cáo ngay cho người chịu trách nhiệm để xử trí và thực hiện điều trị dự phòng sau phơi nhiễm theo quy định;
Khai báo theo mẫu thông báo tai nạn nghề nghiệp:
– Do vật sắc nhọn, văng bắn máu và dịch cơ thể (Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27/ 9 /2012 của Bộ Y tế, về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn);
– Giấy chứng nhận bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp (Quyết định số 120/2008/QĐ-TTg ngày 29/8/2008).
Bước 3: Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm:
Đánh giá theo 3 mức độ:
* Không có nguy cơ: Máu và chất dịch chất thải của người bệnh bắn vào vùng da lành;
* Nguy cơ thấp: Tổn thương da xây xát nông và không chảy máu hoặc chảy máu ít; máu và chất dịch chất thải của người bệnh bắn vào niêm mạc không bị tổn thương viêm loét;
* Nguy cơ cao: Tổn thương qua da sâu, chảy nhiều máu do kim tiêm cỡ to; Tổn 66 thương qua da sâu, rộng chảy máu nhiều do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải; Máu và chất dịch trong chất thải của người bệnh bắn vào các vùng da, niêm mạc bị tổn thương viêm loét rộng từ trước.
Bước 4: Đánh giá nguồn gây phơi nhiễm
* Nguồn từ máu và dịch của người bệnh cần được đánh giá tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B, C và HIV: thu thập thông tin từ bệnh án & bệnh nhân (kết quả xét nghiệm, chẩn đoán khi vào viện, tiền sử bệnh);
* Trong trường hợp không rõ tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B, C và HIV của bệnh nhân là nguồn phơi nhiễm → cần được thông báo về tai nạn nghề nghiệp và được xét nghiệm để xác định tình trạng nhiễm vi rút gây bệnh qua đường máu và điều trị kịp thời;
* Nếu bệnh nhân là nguồn phơi nhiễm bị nhiễm bệnh, cần cung cấp dịch vụ tư vấn và điều trị thích hợp cho họ. Bên cạnh đó, cần giữ bí mật thông tin về tình trạng bệnh tật của họ.
Bước 5: Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm
* NVYT bị phơi nhiễm cần được xét nghiệm HIV trong vòng vài giờ đầu sau khi xảy ra phơi nhiễm;
* Kết quả xét nghiệm HIV đầu tiên này được sử dụng để đánh giá tình trạng nhiễm của NVYT trước khi phơi nhiễm (Kết quả: – tính);
* Kết quả xét nghiệm của người bị phơi nhiễm với HIV tại một trong các thời điểm 01 tháng hoặc 03 tháng, 06 tháng sau khi bị tai nạn rủi ro nghề nghiệp là dương tính (+).
Bước 6: Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm
* Giai đoạn của sổ → thuốc ARV có thể phòng ngừa nhiễm HIV;
* Khuyến cáo nên tiêm ngừa VRVG B cho tất cả nhân viên làm việc tại các cơ sở y tế (3 lần vào tháng 0, 1 và 6).
(Nguồn tin: Sổ tay hướng dẫn quản lý chất thải y tế trong bệnh viện – NXB Y học Hà Nội, 2015)
