Đánh giá hiện trạng áp dụng công nghệ xử lý chất thải nguy hại và chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam
Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Thành Yên, Đỗ Tiến Đoàn, Nguyễn Thành Lam,
Lê Thị Minh Thuần, Phan Thanh Giang, Lê Ngọc Lâm
Cục Quản lý chất thải và Cải thiện Môi trường, Tổng cục Môi trường
TÓM TẮT
Quản lý chất thải rắn nói chung và chất thải nguy hại (CTNH), chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) nói riêng là một vấn đề đang nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng và là điểm nóng trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay. Vì vậy, việc quản lý và xử lý an toàn chất thải, đặc biệt là nghiên cứu, đánh giá hiện trạng các công nghệ xử lý chất thải tại Việt Nam nhằm đưa ra các giải pháp giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường và hạn chế các tác động xấu tới sức khỏe con người là một trong những vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu này đưa ra cái nhìn tổng quát về hiện trạng công nghệ xử lý đang được sử dụng ở Việt Nam, để từ đó có các giải pháp quản lý phù hợp trong việc quản lý chất thải, bảo vệ môi trường thời gian tới.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý chất thải rắn nói chung và chất thải nguy hại (CTNH), chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) nói riêng là một vấn đề đang nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng và là điểm nóng trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay. Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ của nước ta, lượng chất thải cũng liên tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn đối với công tác bảo vệ môi trường. Theo thống kê của Tổng cục Môi trường dựa vào báo cáo của các địa phương, lượng CTNH phát sinh trên toàn quốc khoảng 800 ngàn tấn/năm. Về năng lực thu gom, xử lý CTNH, hiện nay công suất xử lý CTNH của các cơ sở được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép là khoảng 1.300 nghìn tấn/năm. Với số lượng và công suất xử lý như vậy, các cơ sở này trong thời gian qua đã đóng vai trò chính trong việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTNH (bao gồm cả chất thải điện tử – CTĐT) đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành. Tổng số lượng CTNH mà các đơn vị này thu gom, xử lý được trong năm 2012 là 165.624 tấn; năm 2013 là 186.657 tấn; năm 2014 là 320.275 tấn.
Theo điều tra, khảo sát và ước tính của Bộ Tài nguyên và Môi trường, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc năm 2014 khoảng 23 triệu tấn tương đương với khoảng 63.000 tấn/ngày, trong đó, chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày. Chỉ tính riêng tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là: 6.420 tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày.
Trước sự gia tăng nhanh chóng của chất thải, công tác quản lý, xử lý trong thời gian qua vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường. Thực tế cho thấy, việc quản lý và xử lý chất thải không an toàn, đặc biệt là đối với CTNH, CTRSH đã để lại những hậu quả nặng nề về môi trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng như các điểm tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, các bãi rác không hợp vệ sinh, lò đốt chất thải rắn, các bãi đổ chất thải của các nhà máy sản xuất,…Bên cạnh đó, hiện nay chưa có mô hình công nghệ xử lý chất thải rắn hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường phù hợp với điều kiện Việt Nam. Vì vậy, quản lý và xử lý an toàn chất thải, đặc biệt là nghiên cứu các công nghệ xử lý chất thải, nhằm giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường và hạn chế các tác động xấu tới sức khỏe con người là một trong những vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, sau một giai đoạn phát triển kinh tế nhanh và tiêu thụ rất nhiều tài nguyên, tái chế chất thải và thu hồi tài nguyên từ chất thải đã trở thành một xu thế tất yếu. Để thực hiện tái chế các thành phần có ích trong chất thải rắn sinh hoạt, CTNH, cần phải có các công nghệ hợp lý.
Do vậy, để góp phần vào công tác quản lý, xử lý chất thải phát sinh, cần có cái nhìn tổng quát về hiện trạng công nghệ xử lý (kể cả tái chế) đang được sử dụng ở Việt Nam, để từ đó có các giải pháp quản lý phù hợp trong việc quản lý chất thải, bảo vệ môi trường thời gian tới.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp khảo sát hiện trường
Khảo sát thực tế tại các cơ sở xử lý CTRSH, cơ sở xử lý CTNH hoặc thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ hàng năm.
2.2. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu các hồ sơ đăng ký hành nghề của các cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép và các tài liệu có liên quan đến công nghệ xử lý chất thải.
2.3. Phương pháp chuyên gia
Trao đổi, tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong quá trình xem xét cấp phép hành nghề quản lý CTNH và trong các vấn đề cụ thể về quản lý chất thải.
2.4. Phương pháp thống kê
Áp dụng trong việc thống kê các số liệu khảo sát và thu thập được.
2.5. Phương pháp phân tích
Phân tích và đánh giá công nghệ dựa trên các số liệu khảo sát thực tế.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hiện trạng áp dụng một số công nghệ xử lý CTRSH và CTNH điển hình ở Việt Nam
3.1.1. Nhóm công nghệ nhiệt để tiêu huỷ chất thải
3.1.1.1. Nhóm công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp và lò quay
Hiện nay, lò đốt hai cấp (lò tĩnh hoặc lò quay) là loại công nghệ được sử dụng phổ biến để tiêu huỷ các loại chất thải phát sinh ở Việt Nam hiện nay, đối với cả CTNH và CTRSH. Đối với mỗi loại chất thải, việc áp dụng công nghệ lò đốt này có những điểm thuận lợi và khó khăn riêng, cụ thể như sau:
Đối với Chất thải nguy hại
Tính đến tháng 7/2015, Tổng cục Môi trường đã cấp phép cho 50 cơ sở xử lý CTNH có áp dụng công nghệ với số lượng là 69 lò đốt tĩnh có công suất từ 100 – 2000 kg/h.
Các lò đốt sử dụng quy trình công nghệ dạng buồng đốt tĩnh theo mẻ và thiêu đốt hai cấp. Lò thường cấu tạo 2 buồng đốt gồm: buồng đốt sơ cấp đốt ở nhiệt độ trên 650oC; buồng đốt thứ cấp đốt cháy ở nhiệt độ trên 1050oC. Một số lò có bổ sung thêm buồng đốt bổ sung sau buồng đốt thứ cấp để tăng cường hiệu quả đốt các khí độc. Các lò đốt đều trang bị hệ thống xử lý khí thải bao gồm trao đổi nhiệt (hạ nhiệt bằng không khí hoặc nước); hấp thụ (phun sương hoặc sục dung dịch kiềm) và có thể có bộ phận hấp phụ (than hoạt tính).
Ưu điểm của công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp là công nghệ đơn giản, sẵn có (nhập khẩu hoặc chế tạo trong nước), chi phí đầu tư hợp lý, dễ vận hành phù hợp điều kiện Việt Nam. Lò đốt cũng là công nghệ chủ lực trong các cơ sở xử lý CTNH do có dải CTNH xử lý rộng (bao gồm cả chất thải y tế). Kể cả các lò đốt nhập từ nước ngoài về cũng phải cải tiến để đáp ứng việc đốt đa dạng CTNH do các lò nước ngoài thường được thiết kế để chuyên đốt một số loại CTNH nhất định. Tuy nhiên, quy trình kiểm soát, vận hành còn thủ công hoặc chưa tự động hoá cao nên khó có thể đốt các CTNH đặc biệt độc hại như các chất có chứa halogen (ví dụ PCB, thuốc bảo vệ thực vật cơ clo). Bên cạnh đó, lò đốt tĩnh thường không đốt được hoặc đốt không hiệu quả đối với các loại chất thải khó cháy và có độ kết dính cao như bùn thải. Nhiều lò đốt, đặc biệt các lò giá rẻ thường hay bị trục trặc hệ thống béc đốt hoặc hệ thống xử lý khí thải (như bị thủng ống khói do hơi axit).
Để khắc phục, các lò đốt cần được nghiên cứu nâng cấp một số đặc điểm như bổ sung biện pháp lấy tro trong quá trình đốt để kéo dài thời gian vận hành, lắp hệ thống quan trắc tự động liên tục, tăng cường tự động hoá hệ thống nạp CTNH và điều khiển.
Hiện nay, một số lò đốt được đầu tư trong giai đoạn gần đây được lắp đặt hệ thống than hoạt tính xử lý khí thải, đồng thời thu hồi nhiệt để phát điện (mặc dù giá thành còn cao). Hơn nữa, các lò được đầu tư trong thời gian gần đây được lắp đặt hệ thống lấy tro tự động, giải quyết tình trạng đốt theo mẻ, nâng cao năng suất và hiệu quả của lò đốt.
Đối với lò quay, công nghệ này hiện nay đang dần được áp dụng tại Việt Nam. Hiện ở Việt Nam có 02 cơ sở xử lý CTNH được cấp phép có 2 lò đốt dạng quay. Việc áp dụng lò đốt dạng quay giúp quá trình đảo trộn chất thải, đặc biệt là trong đốt các chất thải dạng bùn hiệu quả hơn. Tuy nhiên, quá trình đảo trộn tạo ra bụi nhiều hơn trong quá trình đốt đòi hỏi có biện pháp thu và kiểm soát bụi trong khí thải một cách chặt chẽ hơn.
Đối với chất thải rắn sinh hoạt
Tại Việt Nam hiện nay đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt chất thải rắn sinh hoạt ở tuyến huyện, xã. Theo báo cáo của các địa phương, trên cả nước có khoảng 50 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, đa số là các lò đốt công suất nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ, các thông số chi tiết về tính năng kỹ thuật khác của lò đốt chất thải chưa được thống kê đầy đủ. Trong đó có khoảng 2/3 lò đốt được sản xuất, lắp ráp trong nước. Bên cạnh đó, có các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng lò đốt công suất lớn, hiện đang hoạt động: Nhà máy xử lý chất thải Sơn Tây thuộc Công ty cổ phần dịch vụ môi trường Thăng Long (sử dụng thiết bị của Việt Nam, công suất thiết kế 300 tấn/ngày); Xí nghiệp xử lý chất thải rắn và sản xuất phân bón tại cụm công nghiệp Phong Phú thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Thái Bình (sử dụng thiết bị của Việt Nam, công suất lò đốt 180 tấn/ngày);…
Qua khảo sát thực tế cho thấy nhiều lò đốt hiệu quả xử lý chưa cao, khí thải phát sinh chưa được kiểm soát chặt chẽ, có nguy cơ phát sinh khí Dioxin, Furan, là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh. Việc đầu tư lò đốt công suất nhỏ là giải pháp tình thế, góp phần giải quyết nhanh chóng vấn đề chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn, đặc biệt với khu vực nông thôn, tuy nhiên, một số lò đốt công suất nhỏ không có hệ thống xử lý khí thải và trên ống khói không có điểm lấy mẫu khí thải; không có thiết kế, hồ sơ giấy tờ liên quan tới lò đốt.
Đối với chất thải y tế (CTYTNH)
Theo thống kê và đánh giá của Bộ Y tế, việc xử lý và thiêu hủy CTYTNH hiện nay cũng chưa đáp ứng theo quy định, cụ thể tính đến 2012 có 73,3% bệnh viện trên toàn quốc có xử lý CTYTNH bằng các lò đốt, còn lại 26,7% bệnh viện sử dụng biện pháp thiêu đốt chất thải y tế nguy hại ngoài trời (đốt tự do) hoặc chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện hoặc bãi chôn lấp chung của địa phương.
Hiện nay, cả nước có khoảng 400 lò đốt rác thải y tế được đầu tư phân tán, phần lớn ngay tại cơ sở y tế và công suất xử lý nhỏ, phổ biến từ 20 – 50 kg/h và một lượng lớn trong số đó không có hệ thống xử lý khí thải kèm theo. Theo khảo sát thực tế đối công nghệ lò đốt loại này thì buồng đốt sơ cấp, thứ cấp không được thiết kế riêng biệt, nó là một buồng đốt liền và được lắp đặt hai béc đốt theo chiều thẳng đứng trong cùng một buồng đốt, nhưng thực chất với cấu tạo kiểu này thì công nghệ này chỉ được coi là lò đốt một cấp và với cấu tạo buồng đốt như vậy sẽ không đảm bảo thời gian lưu cháy theo quy định (tối thiểu là 2s). Đa số lò đốt đều vận hành dạng thủ công, theo mẻ, chế độ nhiệt thiêu hủy chất thải chưa theo quy định (nhiệt độ buồng đốt sơ cấp ở nhiệt độ ≥ 650°C, nhiệt độ buồng đốt thứ cấp ở nhiệt độ ≥ 1.050°C). Với nhiệt độ không đủ cao, quá trình oxy hoá hóa học biến đổi chất thải bằng oxy không khí sẽ xảy ra không hoàn toàn và sản phẩm khí thải có khói đen, nồng độ các chất ô nhiễm như CO, THC trong khí thải cao. Trong khi đó, đa phần các lò đốt công suất nhỏ này chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải lò đốt gây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường. Một số lò đốt chất thải y tế được đầu tư thời gian gần đây và được cấp Giấy phép xử lý CTNH thì đáp ứng các yêu cầu của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải y tế QCVN 02: 2012/BTNMT.
Tại Việt Nam, việc khuyến khích, ưu tiên sử dụng công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường trong xử lý chất thải y tế đã được lần đầu nhắc đến tại Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế và gần đây được cụ thể hoá tại Điểm a, Khoản 5 Nghị định số 38/2015/NĐ- CP. Việc xử lý chất thải y tế bằng phương pháp không đốt như khử khuẩn bằng lò hấp, lò vi sóng đem lại hiệu quả về mặt kinh tế lẫn môi trường, do sử dụng ở nhiệt độ dưới 400 độ C nên không phát sinh khí thải đặc biệt dioxin/furan và giảm tiêu thụ năng lượng.
Như vậy, trừ các trường hợp đặc biệt như cơ sở xử lý chất thải y tế tập trung, hoặc xử lý chất thải y tế tại các cơ sở được cấp phép xử lý CTNH thì cần hạn chế dần việc đầu tư lò đốt tại các cơ sở y tế thậm chí dừng hẳn tại một thời điểm thích hợp và chuyển sang công nghệ không đốt.
3.1.1.2. Công nghệ đồng xử lý trong lò nung xi măng
Công nghệ này mới được sử dụng bởi hai cơ sở sản xuất xi măng tại Kiên Giang và Hải Dương với công suất được cấp phép khá lớn so với các nhà máy xử lý CTNH khác, 432 nghìn tấn CTNH/năm trên tổng số 1.300 nghìn tấn của toàn bộ các cơ sở xử lý CTNH được cấp phép. Bên cạnh đó, một số nhà máy sản xuất xi măng hiện đang áp dụng việc tự xử lý CTNH cho chất thải phát sinh trong nội bộ cơ sở.
Do đặc thù của công nghệ sản xuất xi măng lò quay, có thể sử dụng CTNH làm nguyên liệu, nhiên liệu bổ sung cho quá trình sản xuất xi măng, chất thải được tiêu huỷ đồng thời trong lò nung xi măng ở nhiệt độ cao (trên 1300oC). Do quá trình nung xi măng thường phát sinh nhiều loại khí và bụi nên các nhà máy sản xuất xi măng thường đầu tư hệ thống xử lý khí thải tiên tiến để xử lý vấn đề này. Hệ thống xử lý khí thải nhà máy xi măng bao gồm các công đoạn như: lọc bụi thô bằng xyclon, sau đó lọc bụi tinh bằng tĩnh điện hoặc túi vải.
Đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng có nhiều ưu điểm lớn như môi trường hoạt động ở nhiệt độ cao nên hiệu suất tiêu huỷ cao, xử lý được nhiều loại CTNH với khối lượng lớn, kể cả các chất thải có chứa halogen. Đặc biệt là hiệu quả kinh tế rất lớn do tiết kiệm nguyên, nhiên liệu vì các loại CTNH dễ cháy góp phần cung cấp nhiệt lượng và một số loại CTNH có thành phần phù hợp với nguyên liệu sản xuất xi măng. Bên cạnh đó, đồng xử lý tận dụng hệ thống sản xuất xi măng sẵn có nên tiết kiệm được chi phí đầu tư về cơ sở hạ tầng.
Sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lý chất thải nguy hại trong lò nung xi măng QCVN 41: 2011/BTNMT, việc áp dụng lò nung xi măng để xử lý chất thải đã nhận được sự quan tâm của nhiều đơn vị. Bên cạnh 02 cơ sở được cấp phép xử lý CTNH như nêu ở trên, một số đơn vị đã áp dụng công nghệ này trong việc xử lý chất thải phát sinh tại nội bộ cơ sở. Đặc biệt, hiện nay theo quy định của Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, các cơ sở sản xuất xi măng có nhu cầu đồng xử lý chất thải nguy hại không phải tuân thủ các quy định về quy hoạch đối với địa điểm, điều này chắc chắn sẽ khuyến khích các nhà máy xi măng áp dụng công nghệ này trong thời gian tới.
So với lò đốt thì mặc dù chỉ có 2 lò xi măng được cấp nhưng công suất là 432 nghìn tấn CTNH/năm so với công suất 320 nghìn tấn CTNH/năm của 69 lò đốt khác cho thấy ưu điểm nổi trội của loại hình đồng xử lý. Ngoài ra, các loại CTNH được xử lý trong lò nung xi măng cũng được xử lý triệt để hơn, không phát sinh tro xỉ thứ cấp mà các tro xỉ sinh ra được đi vào làm thành phần của xi măng thành phẩm.
3.1.2. Nhóm công nghệ chôn lấp để xử lý chất thải
* Chôn lấp CTNH
Công nghệ này hiện nay đã được áp dụng ở Hà Nội và Bình Dương, Đồng Nai, Quảng Ngãi, Thanh Hoá… với dung tích của mỗi hầm chôn lấp từ 10.000 – 15.000 m3.
Bãi chôn lấp CTNH, hay thực chất là các hầm chôn lấp, được thiết kế theo quy định tại Tiêu chuẩn xây dựng TCXDVN 320:2004 về Bãi chôn lấp chất thải nguy hại – Tiêu chuẩn thiết kế. Việc vận hành bãi chôn lấp CTNH thực hiện trên cơ sở Hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 07 tháng 8 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Ưu điểm của các hầm chôn lấp CTNH có khả năng cô lập các CTNH chưa có khả năng xử lý bằng công nghệ khác, công suất lớn và giá thành xử lý khá rẻ so với nhiều phương pháp tiêu huỷ khác như đốt. Hơn nữa, CTNH tương lai có thể đào lên để xử lý nếu có công nghệ phù hợp. Các hầm chôn lấp đều có mái che kín trong quá trình vận hành nên biện pháp này có tính chất là đóng kén hơn là chôn lấp, không có khả năng phát sinh nước rò rỉ nhưng vẫn có hệ thống thu gom nước rò rỉ.
Tuy nhiên phương pháp này khá tốn diện tích. CTNH không được xử lý triệt để, mối nguy cơ rò rỉ vẫn còn nên cần giám sát lâu dài sau khi đóng hầm. Một lý do chôn lấp CTNH chưa được triển khai rộng do phải đảm bảo các điều kiện ngặt nghèo, hay có thể nói là bất khả thi về khoảng cách với các khu dân cư theo TCXDVN 320:2004. Một điều cần quan tâm là theo TCXDVN 320:2004 thì yêu cầu CTNH phải được hoá rắn, ổn định hoá thì hiện nay bị hiểu thành phải được bê tông hoá trước khi cho vào chôn lấp. Nếu đã bê tông hoá như trình bày ở mục 3.1.4 đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng CTNH thì không cần thiết phải đưa vào hầm chôn lấp CTNH.
Do vậy, cần tiến hành rà soát và chỉnh sửa các tiêu chuẩn kỹ thuật nêu trên để phù hợp với điệu kiện thực tế hơn, đặc biệt là vấn đề khoảng cách ly. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang chuẩn bị xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bãi chôn lấp CTNH. Khi quy chuẩn này được ban hành, việc quản lý các bãi chôn lấp CTNH sẽ được quản lý tốt và chặt chẽ hơn.
* Chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt
Theo thống kê tính đến năm 2013 có khoảng 458 bãi chôn lấp chất thải rắn có quy mô trên 1ha, ngoài ra còn có các bãi chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã chưa được thống kê đầy đủ. Trong số 458 bãi chôn lấp có 121 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và 337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường.
Một số cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh hiện đang hoạt động như: Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước thuộc Công ty TNHH xử lý chất thải rắn Việt Nam; Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc Củ Chi thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị thành phố Hồ Chí Minh; Khu xử lý chất thải Nam Sơn thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hà Nội,…
3.1.3. Nhóm công nghệ tái chế chất thải
3.1.3.1. Sản xuất phân hữu cơ từ CTRSH
Hiện nay, các cơ sở xử lý CTRSH thành phân hữu cơ chủ yếu sử dụng công nghệ ủ hiếu khí hoặc kị khí trong thời gian khoảng 40-45 ngày, một số cơ sở xử lý đang hoạt động: Nhà máy xử lý CTRSH Nam Bình Dương thuộc Công ty TNHH MTV cấp thoát nước và môi trường Bình Dương (sử dụng dây chuyền thiết bị của Tây Ban Nha, công suất thiết kế 420 tấn/ngày); Nhà máy xử lý và chế biến chất thải Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh thuộc Công ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh (sử dụng dây chuyền thiết bị của hãng Mernat-Bỉ, công suất thiết kế 200 tấn/ngày); Nhà máy xử lý rác Tràng Cát, thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hải Phòng (sử dụng dây chuyền thiết bị của Hàn Quốc, công suất thiết kế 200 tấn/ngày); Nhà máy xử lý chất thải rắn Nam Thành, Ninh Thuận thuộc Công ty TNHH xây dựng thương mại và sản xuất Nam Thành (dây chuyền thiết bị của Việt Nam, công suất thiết kế 200 tấn/ngày, dự kiến sẽ nâng công suất lên 300 tấn/ngày)…Hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ của các cơ sở xử lý nhập khẩu từ nước ngoài thường phải thực hiện cải tiến công nghệ, thiết bị để phù hợp với đặc điểm CTRSH chưa được phân loại tại nguồn và điều kiện khí hậu ở Việt Nam.
3.1.3.2. Tái chế CTNH
* Tái chế dầu thải
Hiện tại, có 36/83 các cơ sở hành nghề xử lý do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ tái chế dầu gồm các công nghệ: chưng cất cracking dầu (chưng phân đoạn hay còn gọi chưng nhiều bậc và chưng đơn giản hay chưng một bậc); phân ly dầu nước bằng phương pháp cơ học (ly tâm) và bằng nhiệt.
Trong thực tế, phần lớn các cơ sở sử dụng công nghệ chưng đơn giản để thu hồi các cấu tử dầu (nguyên lý là sử dụng nhiệt để làm bay hơi và cắt mạch, sau đó ngưng tụ để thu hồi các cấu tử dầu, cặn rắn được tách ra và lấy ra ở đáy nồi chưng). Hiện nay có một số cơ sở đang đầu tư công nghệ chưng phân đoạn (chưng nhiều bậc) để tái chế dầu, đây là công nghệ hiện đại sử dụng để sản xuất các sản phẩm xăng dầu từ dầu thải.
Nhìn chung, đối với công nghệ chưng đơn giản có ưu điểm trang thiết bị đơn giản (có thể tự chế tạo, lắp đặt), dễ vận hành, đầu tư thấp, nhưng việc vận hành và kiểm soát khá thủ công, đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ năng của người vận hành. Công nghệ chưng đơn giản phù hợp với các cơ sở nhỏ có lượng dầu thải đầu vào thấp, biến động.
Công nghệ chưng phân đoạn có hệ thống kiểm soát hiện đại, chất lượng sản phẩm đầu ra ổn định nhưng chi phí đầu tư lớn, vận hành phức tạp, đòi hỏi nguyên liệu đầu vào lớn và ổn định trong khi nguồn dầu thải ở Việt Nam thường nhỏ lẻ, biến động. Một sự chuyển dịch mới trong thời gian qua là đã có những Doanh nghiệp tập trung chú trọng xử lý chuyên về dầu thải với quy mô và công nghệ tương đối hiện đại, việc đầu tư này sẽ chuyên môn hoá cao hơn và giúp quản lý tốt hơn dầu thải phát sinh hiện nay.
Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái chế dầu thải QCVN 56:2013/BTNMT, trong đó đưa ra các quy định về kỹ thuật và yêu cầu về dầu thải được tái chế. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các đơn vị áp dụng các công nghệ tái chế dầu thải áp dụng.
* Tái chế ắc quy chì thải
Hiện nay, có 27/83 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ xử lý này, công suất trung bình 0,5 – 200 tấn/ngày.
Nguyên lý của công nghệ tái chế ắc quy chì thải là đầu tiên trung hòa dung dịch chất điện phân (dung dịch axit), sau đó phá dỡ phân loại riêng bản cực chì và vỏ (nhựa PP). Việc phá dỡ có thể là thủ công hoặc cơ giới hoá. Chì và nhựa được nấu tái chế tại chỗ hoặc chuyển cho các đơn vị tái chế.
Hiện nay có một số đơn vị đã đầu tư và đưa vào sử dụng công nghệ hiện đại để tái chế ắc quy, toàn bộ quy trình xử lý được cơ giới, tự động hóa với nguyên lý hoạt động như sau: bình ắc quy (có cả dung dịch axit) được đưa vào máy nghiền đồng thời có bổ sung dung dịch kiềm (sô đa) để trung hòa, sau đó hỗn hợp sau nghiền được đưa tới hệ thống phân tách bằng nước, nhựa có tỷ trọng bé nổi lên trên, còn chì có tỷ trọng lớn chìm xuống dưới và được vớt ra bởi gàu chuyên dụng.
Sau khi thu được chì luyện thô, chì thô tiếp tục được đưa vào quá trình luyện tinh. Một số đơn vị đã đầu tư thêm hệ thống điện phân để thu được thành phẩm chì có hàm lượng cao hơn, tăng giá trị kinh tế thu được.
* Tái chế chất thải điện tử
Hiện nay chỉ có 26/83 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ chuyên xử lý CTĐT này, công suất trung bình tư 0,3 – 5 tấn/ngày. Công nghệ được sử dụng bao gồm:
– Công nghệ tái chế, thu hồi kim loại bằng phương pháp cơ lý: Áp dụng các biện pháp cơ lý để nghiền, sau đó tách các hỗn hợp kim loại và phi kim bằng trọng lực. Đây là phương pháp phân tách đơn giản, sản phẩm thu hồi tái chế có chất lượng thấp, cần được xử lý ở các công đoạn tiếp theo. Hiện có khoảng 15 đơn vị được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép đang áp dụng công nghệ này.
– Công nghệ tái chế, thu hồi kim loại bằng phương pháp hóa học: CTĐT sau khi nghiền, phân tách cơ học, kim loại được thu hồi bằng các phản ứng hóa học để tách riêng các kim loại khác nhau. Sản phẩm thu được có độ tinh khiết khá cao. Hiện có khoảng 05 đơn vị được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép đang áp dụng công nghệ này.
– Công nghệ thu hồi kim loại bằng phương pháp điện phân: Đây là phương pháp xử lý CTĐT thu được sản phẩm kim loại có độ tinh khiết cao. Tuy nhiên, hiện nay mới có một số đơn vị áp dụng ở quy mô thử nghiệm, chưa được nhân rộng ra quy mô lớn. Công nghệ này thường yêu cầu thiết bị có quy mô công nghiệp và nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định trong khi nguồn cung cấp đầu vào về thu gom CTĐT gặp khó khăn.
* Tái chế bột kẽm oxit từ bụi lò luyện thép
Nguyên lý cơ bản của phương pháp xử lý bụi lò luyện thép bằng lò quay là dựa vào tính bốc hơi của kim loại kẽm, khi khống chế ở nhiệt độ nhất định kẽm trong bụi lò sẽ hoàn nguyên và thoát ra khỏi liệu. Sau khi được phân huỷ và hoàn nguyên ở nhiệt độ 1100-1150oC, hơi kẽm sẽ được ôxi hoá hoàn toàn tạo thành ZnO, các tạp chất khác nằm lại trong xỉ ở dạng hợp chất bền vững không tan trong nước được làm nguội bằng nước và thu hồi về bãi chứa xỉ.
Đặc trưng của công nghệ này là việc sử dụng lò quay để thực hiện quá trình xử lý. Do độ dốc của lò nên khi lò quay, nguyên, nhiên liệu sẽ được lăn dần từ đầu nạp liệu sang đầu thải xỉ và chảy ra ngoài trên đường dịch chuyển liệu được sấy khô nung nóng và tự bốc cháy. Tốc độ nạp liệu tuỳ thuộc vào tốc độ dịch chuyển của liệu ở trong lò để đảm bảo quá trình vận hành an toàn, hiệu quả.
Hiện nay, Tổng cục Môi trường đã cấp phép cho 03 Doanh nghiệp xử dụng công nghệ lò quay để tái chế bột kẽm oxit từ bụi lò luyện thép với tổng công suất cấp phép là trên 120 nghìn tấn bụi lò luyện thép/năm. Việc cấp phép xử lý CTNH cho các công nghệ này đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết vấn đề tồn đọng bụi lò luyện thép vốn là vấn đề môi trường bức xúc thời gian qua tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũng như tại các tỉnh thành có nhà máy luyện thép trên cả nước.
IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG
4.1. Về quá trình phát triển công nghệ xử lý chất thải thời gian gần đây và xu hướng áp dụng các công nghệ mới
Về công nghệ xử lý chất thải nguy hại
So với hiện trạng công nghệ xử lý CTNH được đánh giá cách đây 05 năm (năm 2010), công nghệ xử lý CTNH đã có bước phát triển đáng kể về quy mô, số lượng và công nghệ xử lý. Chi tiết số liệu về sự thay đổi được thể hiện trong các bảng sau:

Nhìn vào bảng trên có thể thấy, công nghệ xử lý chất thải của Việt Nam trong năm năm qua đã có sự chuyển biến rõ rệt. Ví dụ, trước đây việc thiêu hủy chất thải chỉ thực hiện bằng từ công nghệ lò tĩnh hiện nay đã có lò quay, từ việc chủ yếu là xử lý, thiêu hủy sang việc đầu tư các công nghệ tái chế các nguyên liệu có ích. Ngoài ra, các công nghệ tái chế cũng bắt đầu được đầu tư một cách bài bản hơn và hiện đại hơn. Về quy mô, công suất của các thiết bị cũng bắt đầu được đầu tư lớn hơn. Ví dụ, số lượng các đơn vị áp dụng công nghệ chưng cất chân không để tái chế dầu thải ngày càng nhiều so với việc tái chế dầu thải áp dụng công nghệ xử lý hóa lý một cách đơn thuần. Một số đơn vị cũng đã áp dụng công nghệ điện phân để thu hồi kim loại (chì, kẽm,…) tinh khiết thay cho việc tinh luyện bằng nhiệt trước đây.
Về công nghệ xử lý CTRSH
Tính đến Quý I năm 2014, trong khuôn khổ Chương trình xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 đã có 26 cơ sở xử lý chất thải rắn tập trung được đầu tư xây dựng theo hoạch xử lý chất thải rắn của các địa phương. Trong số 26 cơ sở xử lý chất thải rắn có 03 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ đốt, 11 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ, 11cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ kết hợp với đốt, 01 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất viên nhiên liệu. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của công nghệ xử lý chất thải rắn sử dụng tại 26 cơ sở chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện; chưa lựa chọn được mô hình công nghệ xử lý chất thải rắn hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường.
Xu hướng áp dụng các công nghệ mới
Qua những phân tích ở trên, có thể thấy hiện nay xu hướng tiêu hủy chất thải đang được thay thế bởi các công nghệ tái chế để tận dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Việc này bên cạnh yếu tố về môi trường cũng sẽ giúp được các cơ sở xử lý chất thải, đặc biệt là xử lý chất thải nguy hại tăng sức cạnh tranh về khía cạnh kinh tế. Bên cạnh đó, việc tạo ra các cơ sở pháp lý như không yêu cầu về địa điểm quy hoạch, không phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường đã khuyến khích các cơ sở sản xuất xi măng áp dụng cơ sở vật chất sẵn có để xử lý chất thải. Các lò đốt CTRSH cũng đang có xu hướng áp dụng công nghệ đốt phát điện thay vì chỉ đốt tiêu hủy như trong thời gian qua.
4.2. Hiệu quả xử lý và môi trường
Theo báo cáo quản lý CTNH định kỳ, báo cáo giám sát môi trường của các cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép cũng như kết quả thanh tra, kiểm tra những năm vừa qua, hầu hết các công nghệ xử lý CTNH đã được cấp phép đều đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành, đảm bảo hiệu quả xử lý cam kết khi đăng ký hành nghề, phát thải đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Tuy nhiên đây là kết quả do các cơ sở tự giám sát hoặc kết quả giám sát khi có các đoàn thanh tra kiểm tra nên cũng chưa phản ánh đầy đủ được mức độ tuân thủ. Điều này phụ thuộc vào ý thức tự giác chấp hành của các cơ sở. Nhưng ít nhất, điều này cũng khẳng định là các công nghệ đã được cấp phép hiện tại là đảm bảo được hiệu quả xử lý cũng như môi trường nếu được vận hành đúng theo thiết kế và có sự giám sát chặt chẽ.
Việc chôn lấp CTRSH và đốt chất thải y tế tại nhiều cơ sở còn gây ảnh hưởng đến môi trường, cần được kiểm soát chặt chẽ hơn trong thời gian tới. Đặc biệt, đối với chất thải y tế cần chuyển sang áp dụng các công nghệ không đốt để xử lý khử khuẩn các chất thải lây nhiễm, đảm bảo không phát sinh Dioxin/Furan ra môi trường.
4.3. Những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng các công nghệ xử lý chất thải
Các công nghệ xử lý CTNH hiện có của Việt Nam còn chưa thực sự hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ, nhưng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý CTNH của Việt Nam. Tuy nhiên, do khó khăn trong việc thu gom chất thải nên việc đầu tư quy mô lớn hiện chưa phát triển được. Hơn nữa, hiện nay do Việt Nam chưa có các quy định cụ thể về chất thải sản phẩm tái chế nên việc kiểm soát các sản phẩm tái chế từ CTNH hiện chưa được thực hiện một cách đồng bộ. Theo quy định hiện nay thì chỉ kiểm soát được sản phẩm tái chế không còn là CTNH nữa hay không.
Tại nhiều cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng hình thức chôn lấp, quá trình kiểm soát ô nhiễm chưa thực sự đem lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, hiện vẫn đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội. Các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng hình thức chôn lấp không hợp vệ sinh gây ô nhiễm môi trường, làm phát sinh và gia tăng khí mêtan (một loại khí nhà kính), đồng thời tiêu tốn nhiều quỹ đất, không tận dụng được các loại chất thải rắn có khả năng tái chế, tái sử dụng. Hơn nữa, hiện chưa có cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp nào tận thu được nguồn năng lượng từ khí thải thu hồi từ bãi chôn lấp chất thải, gây lãng phí nguồn tài nguyên.
Một số công nghệ xử lý CTRSH thành phân hữu cơ được nghiên cứu và áp dụng trong nước đáp ứng được tiêu chí hạn chế chôn lấp nhưng việc hoàn thiện công nghệ và triển khai nhân rộng còn gặp nhiều khó khăn do vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế; tính đồng bộ, hiện đại, mức độ tự động hóa của hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ chưa cao; các công nghệ xử lý chất thải rắn chưa được sản xuất ở quy mô công nghiệp.
Một số địa phương sử dụng nguồn vốn ODA để nhập khẩu từ nước ngoài các công nghệ xử lý CTRSH thành phân hữu cơ nhưng công nghệ xử lý chưa đạt được hiệu quả như mong muốn: dây chuyền xử lý chất thải rắn sinh hoạt chưa phù hợp với điều kiện Việt Nam, tỉ lệ chất thải rắn được đem chôn lấp hoặc đốt sau xử lý rất lớn từ 35-80%, chi phí vận hành và bảo dưỡng cao,…Ngoài ra, sản phẩm phân hữu cơ sản xuất ra hiện nay khó tiêu thụ, chỉ phù hợp với một số loại cây công nghiệp.
Việc đầu tư nhiều lò đốt công suất nhỏ tại tuyến huyện, xã dẫn tới việc xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ cấp vào môi trường không khí. Ngay cả với một số lò đốt công suất lớn thì hiện còn tồn tại các vấn đề: phân loại, nạp liệu chưa tối ưu; chưa thu hồi được năng lượng từ quá trình xử lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm chưa đảm bảo; chưa có hệ thống thu hồi nước rác; không có hệ thống xử lý nước rỉ rác; xử lý mùi, côn trùng chưa triệt để.
V. CÁC GIẢI PHÁP TRONG THỜI GIAN TỚI
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả xử lý chất thải trong thời gian tới, cần áp dụng một số biện pháp cụ thể sau đây:
5.1. Đối với CTNH
– Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý về CTNH, đặc biệt là việc xây dựng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với từng công nghệ xử lý, tái chế CTNH để tạo cơ sở pháp lý và kỹ thuật cho việc áp dụng các công nghệ xử lý, tái chế nêu trên. Bên cạnh đó cần phải tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra để đảm bảo các công nghệ đã được cấp phép hoạt động tuân thủ đúng quy định, đạt các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường.
– Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học về các công nghệ để xử lý, tái chế các loại CTNH đặc thù, phù hợp với điều kiện của Việt Nam đồng thời xây dựng và ban hành các bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật làm cơ sở khoa học cho công nghệ xử lý chất thải
– Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả vấn đề quản lý, thanh tra, xử phạt, Nhà nước cần phải chú trọng đến vấn đề quản lý thị trường và quy hoạch công nghệ xử lý CTNH. Có như vậy mới có thể tránh cho doanh nghiệp những rủi ro không đáng có, đồng thời nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường của các đơn vị sản xuất.
5.2. Đối với chất thải rắn sinh hoạt
– Triển khai công cụ pháp lý trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt: xác nhận bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường đối với cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt trước khi hoạt động để góp phần ngăn chặn các công nghệ xử lý không đảm bảo yêu cầu trong công tác bảo vệ môi trường
– Đẩy mạnh xây dựng và ban hành trong năm 2015 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với lò đốt chất thải rắn sinh hoạt. Đây là căn cứ kỹ thuật quan trọng mang tính sàng lọc cho việc sản xuất, lựa chọn và thẩm định lò đốt ngay từ giai đoạn đầu.
– Huy động mọi nguồn lực: nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo vệ môi trường, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ngoài đầu tư cho nghiên cứu phát triển công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng giảm thiểu lượng chất thải rắn chôn lấp, tăng cường tỷ lệ tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải. Triển khai xây dựng mô hình điểm áp dụng các công nghệ nghiên cứu để lựa chọn các mô hình với công nghệ phù hợp, đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường và nhân rộng trên phạm vi cả nước.
– Trong thời gian tới, đẩy mạnh hướng nghiên cứu về việc đồng xử lý CTRSH (như trong lò nung xi măng)
– Khẩn trương nghiên cứu công bố suất vốn đầu tư xây dựng cơ sở xử lý CTRSH theo hướng khuyến khích áp dụng các công nghệ tiên tiến, đảm bảo các yêu cầu trong công tác bảo vệ môi trường, phù hợp với điều kiện Việt Nam, tiến gần tới suất vốn đầu tư các nước tiên tiến trong khu vực nhằm nâng cao hiệu quả xử lý chất thải.
– Kiểm soát chặt chẽ để tránh tình trạng nhập khẩu công nghệ không phù hợp, đặc biệt nhập khẩu lò đốt công suất nhỏ không có hệ thống xử lý khí thải
– Triển khai thẩm định công nghệ xử lý CTRSH mới được nghiên cứu và áp dụng lần đầu ở Việt Nam; Công bố rộng rãi kết quả thẩm định làm định hướng cho các nhà đầu tư trong lựa chọn công nghệ xử lý, góp phần phát huy hiệu quả đầu tư.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo Môi trường quốc gia 2011 – Chất thải rắn, Hà Nội
- Các báo cáo về công tác quản lý chất thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 2009-2014.
- Các báo cáo quản lý chất thải nguy hại, báo cáo giám sát môi trường định kỳ của các chủ xử lý, tiêu huỷ chất thải nguy hại, 2009-2014.
- Các bộ hồ sơ đăng ký hành nghề xử lý, tiêu hủy CTNH lưu tại Tổng cục Môi trường.
Theo: Tài liệu Hội thảo Môi trường toàn quốc lần thứ IV
(Nguồn tin: http://vea.gov.vn/)
