Tăng cường vai trò giám sát của tổ chức công đoàn đối với công tác an toàn, vệ sinh lao động trong khu vực kinh tế tư nhân

Thứ Ba, 13/01/2026, 08:58(GMT +7)

1. Mở đầu

Trong gần bốn thập kỷ đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Nghị quyết số 68-NQ/TW (2025) của Bộ Chính trị khẳng định đến năm 2030, khu vực này sẽ giữ vai trò tiên phong trong phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Với trên 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, trong đó khoảng 97% là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), kinh tế tư nhân đã đóng góp hơn 50% GDP, trên 30% tổng thu ngân sách và sử dụng trên 82% lực lượng lao động xã hội.

Tuy nhiên, đi cùng sự phát triển đó là thách thức lớn về an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ). Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), giai đoạn 2020 – 2024, mỗi năm cả nước ghi nhận từ 6.500 – 8.000 vụ tai nạn lao động (TNLĐ), trong đó phần lớn xảy ra tại DNVVN thuộc khu vực tư nhân, tập trung ở các ngành xây dựng, cơ khí, khai khoáng, dệt may.

Trong bối cảnh lực lượng thanh tra nhà nước còn mỏng, khó bao quát toàn bộ doanh nghiệp, nhất là DNVVN, việc tăng cường vai trò giám sát của tổ chức công đoàn trở nên cấp thiết nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động (NLĐ), thúc đẩy doanh nghiệp tuân thủ quy định ATVSLĐ, và hướng đến phát triển bền vững.

2. Vai trò của công đoàn trong giám sát an toàn vệ sinh lao động

Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân, có chức năng chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ. Trong lĩnh vực ATVSLĐ, công đoàn đảm nhận vai trò nòng cốt: giám sát việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, bảo đảm NLĐ được làm việc trong môi trường an toàn, đồng thời lên tiếng bảo vệ quyền lợi của họ khi xảy ra rủi ro hay sự cố. Không chỉ bảo vệ thụ động, công đoàn còn chủ động phòng ngừa, thúc đẩy việc thực hiện các quy định về ATVSLĐ, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định.

Thực tế, các cấp công đoàn đã phối hợp với chính quyền đồng cấp, cơ quan chức năng và người sử dụng lao động tổ chức nhiều hoạt động kiểm tra, giám sát. Nội dung tập trung vào việc hướng dẫn doanh nghiệp tuân thủ nội quy an toàn lao động, quy trình kỹ thuật an toàn trên máy và thiết bị, đăng kiểm các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ như xe nâng, lò hơi, bình khí nén, cầu trục, cũng như đảm bảo các chỉ tiêu về môi trường lao động như bụi, tiếng ồn, hơi khí độc, dung môi và các yếu tố dễ gây bệnh nghề nghiệp (BNN). Đồng thời, công đoàn khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, tiết kiệm hóa chất và vật tư, nhằm hạn chế phát sinh khí thải, phòng ngừa rủi ro và cải thiện điều kiện lao động.

Hoạt động giám sát của công đoàn không chỉ dừng lại ở việc phát hiện vi phạm mà còn kịp thời chỉ ra nguyên nhân gây TNLĐ, BNN, từ đó kiến nghị giải pháp khắc phục. Thông qua thanh tra, kiểm tra, hàng loạt thiếu sót, tồn tại đã được phát hiện và xử lý; nhiều doanh nghiệp đã bổ sung, hoàn thiện quy định về ATVSLĐ, xây dựng môi trường làm việc sạch đẹp, an toàn hơn, góp phần giảm TNLĐ và BNN.

Kết quả giai đoạn 2020 – 2024 cho thấy, các cấp công đoàn đã phối hợp giám sát tại 14.458 doanh nghiệp, cùng với người sử dụng lao động tổ chức 87.257 cuộc tự kiểm tra về công tác ATVSLĐ. Qua đó, đã phát hiện 16.510 vi phạm, nhận diện 44.405 nguy cơ rủi ro, đồng thời yêu cầu doanh nghiệp bổ sung 40.400 nội quy, quy trình làm việc an toàn. Những con số này khẳng định vai trò không thể thay thế của công đoàn trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe NLĐ, đồng thời góp phần nâng cao năng suất và thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp tư nhân.

Đoàn giám sát an toàn vệ sinh lao động của Tổng LĐLĐVN làm việc với công ty CP May XK Hà Phong

3. Hạn chế và thách thức trong công tác giám sát an toàn vệ sinh lao động của công đoàn

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động kiểm tra, giám sát ATVSLĐ của công đoàn tại khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các DNVVN, khiến hiệu quả giám sát chưa đạt như mong muốn.

Trước hết, khó khăn lớn nhất đến từ tổ chức và nhân sự. Theo báo cáo năm 2024 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, chỉ khoảng 12% doanh nghiệp khu vực tư nhân có công đoàn cơ sở. Phần lớn doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn hoặc hoạt động còn mờ nhạt. Cán bộ công đoàn tại các DNVVN thường kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn về ATVSLĐ và chưa có nhiều thời gian dành cho hoạt động giám sát.

Thứ hai, kinh phí dành cho hoạt động công đoàn tại DNVVN rất hạn chế. Nhiều nơi không đủ điều kiện để tổ chức tập huấn về ATVSLĐ hay trang bị công cụ, kiến thức hoạt động giám sát. Việc thiếu đội ngũ chuyên gia kỹ thuật để phân tích nguy cơ cũng khiến hoạt động giám sát chủ yếu mang tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu.

Thứ ba, nhận thức và sự hợp tác từ phía doanh nghiệp chưa cao. Một bộ phận chủ doanh nghiệp vẫn coi công tác ATVSLĐ và hoạt động công đoàn là chi phí phát sinh thay vì đầu tư cho phát triển bền vững. Thậm chí, có doanh nghiệp còn né tránh hoặc đối phó khi công đoàn tiến hành kiểm tra, giám sát.

Thứ tư, đặc thù lao động trong DNVVN chủ yếu là lao động hợp đồng ngắn hạn và lao động nhập cư. Điều này gây khó khăn cho việc kết nạp đoàn viên, xây dựng lực lượng nòng cốt là an toàn vệ sinh viên. Đồng thời, NLĐ cũng thường e ngại phản ánh vi phạm do lo sợ mất việc, khiến thông tin phản ánh không đầy đủ và kém hiệu quả.

Cuối cùng, lực lượng thanh tra và quản lý nhà nước về ATVSLĐ còn mỏng, thiếu sự hỗ trợ đồng bộ. Theo báo cáo năm 2024 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), mỗi năm chỉ có dưới 2% số doanh nghiệp được thanh tra, trong đó DNVVN thường ít nằm trong diện kiểm tra. Vì vậy, công đoàn thiếu cơ sở pháp lý và sức ép từ bên ngoài để nâng cao hiệu quả giám sát.

4. Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò giám sát của công đoàn

Để nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát ATVSLĐ của công đoàn trong các DNVVN thuộc khu vực kinh tế tư nhân, thời gian tới cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp sau:

1) Hoàn thiện chính sách – pháp luật về ATVSLĐ: Cần quy định rõ hơn vai trò của công đoàn trong việc tham gia xây dựng, phản biện và giám sát chính sách ATVSLĐ, nhằm thể chế hóa tiếng nói của NLĐ và củng cố cơ sở pháp lý cho công đoàn thực hiện chức năng giám sát hiệu quả hơn. Đồng thời, cần tăng cường trách nhiệm bắt buộc của doanh nghiệp trong việc báo cáo định kỳ về công tác ATVSLĐ.

2) Nâng cao năng lực cán bộ công đoàn: Đội ngũ cán bộ công đoàn trong khu vực tư nhân, đặc biệt tại DNVVN, hiện còn mỏng và đa phần kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu về nhận diện, đánh giá nguy cơ rủi ro ATVSLĐ. Việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn sẽ giúp công đoàn nâng cao hiệu quả giám sát, củng cố niềm tin của NLĐ, đồng thời chia sẻ gánh nặng với cơ quan thanh tra Nhà nước vốn đang thiếu nguồn lực.

3) Tăng cường cơ chế phối hợp ba bên: Ở nhiều doanh nghiệp tư nhân, quan hệ phối hợp giữa công đoàn, doanh nghiệp và cơ quan quản lý vẫn mang tính hình thức. Công đoàn cơ sở, nếu có, thường mới chỉ dừng ở việc phản ánh ý kiến của NLĐ. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ sẽ giúp công đoàn không còn đơn độc trong giám sát ATVSLĐ, mà trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống quản lý an toàn, qua đó góp phần giảm thiểu TNLĐ và BNN.

4) Ứng dụng công nghệ trong giám sát: Hiện nay, hoạt động giám sát ATVSLĐ của công đoàn chủ yếu dựa trên báo cáo giấy và phản ánh trực tiếp, nên còn chậm và thiếu bao quát. Việc ứng dụng các công cụ số hóa sẽ giúp công đoàn khắc phục hạn chế về nhân lực và tài chính, nâng cao tính minh bạch, kịp thời trong thu thập và xử lý thông tin. Đây là giải pháp mang tính đột phá, giúp công đoàn khu vực kinh tế tư nhân khẳng định vai trò đại diện NLĐ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

5. Kết luận

Trong bối cảnh kinh tế tư nhân đang bứt phá, thách thức ATVSLĐ ngày càng lớn. Thanh tra nhà nước dù quan trọng nhưng không đủ nguồn lực bao quát, do đó công đoàn cần được trao vai trò trung tâm trong giám sát ATVSLĐ.

Một công đoàn mạnh mẽ, có năng lực, được pháp luật bảo đảm quyền hạn rõ ràng, sẽ là người đại diện tin cậy giúp NLĐ yên tâm làm việc, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng văn hóa an toàn, phát triển bền vững.

Tăng cường vai trò giám sát của công đoàn chính là đáp án cho bài toán cân bằng giữa mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân và bảo vệ sức khỏe, tính mạng của NLĐ – yếu tố cốt lõi của sự phát triển bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, ban hành ngày 04 tháng 5 năm 2025
  2. Cục Thống kê – Bộ Tài chính (2025), Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý I/2025, ban hành ngày 6 tháng 4 năm 2025.
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I.
  4. Tổng LĐLĐ Việt Nam (2025), Báo cáo số 18/BC-TLĐ Tổng kết 10 năm thi hành Luật ATVSLĐ trong các cấp công đoàn, ban hành ngày 18 tháng 8 năm 2025.
  5. Tổng LĐLĐ Việt Nam, Báo cáo kết quả hoạt động Tháng hành động về ATVSLĐ các năm từ 2020-2024.
  6. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Thông báo tình hình tai nạn lao động các năm từ 2020-2024.

VNNIOSH