Làm việc ở tư thế ngồi – Tổng quan
Các chấn thương gây ra do ngồi lâu được coi là một vấn đề an toàn vệ sinh lao động nghiêm trọng. Những công việc ngồi làm yêu cầu ít sự gắng sức về cơ bắp, nhưng lại không miễn cho người ta khỏi các rủi ro chấn thương thường chỉ gắn với các nhiệm vụ yêu cầu sử dụng thể lực. Ví dụ: nhân viên bàn giấy, người lao động làm việc tại dây chuyền lắp ráp điện tử, người điều hành cổng dữ liệu; là những người làm việc ở tư thế ngồi và phải chịu đựng chứng đau lưng, căng cơ và nhức mỏi. Trong thực tế, các báo cáo cho thấy người lao động làm việc ở tư thế ngồi thường mắc các chứng như: giãn tĩnh mạch, cứng cổ và tê chân nhiều hơn so với những người làm công việc nặng nhọc.
Ngoài ra, khoảng thời gian ngồi làm việc cũng liên quan tới những ảnh hưởng về sức khỏe như: hội chứng chuyển hóa (ví dụ như bệnh đái tháo đường), bệnh tim và sức khỏe tâm thần kém. Những ảnh hưởng kể trên không liên quan đến việc một người năng động như thế nào về mặt thể chất.
Làm việc ở tư thế ngồi ảnh hưởng tới tuần hoàn máu ra sao?
Khi người lao động có thể ngồi ở các tư thế khác nhau, thì việc ngồi làm việc có thể không phải là một rủi ro lớn gây ra chấn thương hoặc trạng thái không thoải mái.
Đối với những người không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải ngồi lâu trong một khoảng thời gian dài, thì tình thế lại hoàn toàn khác. Mặc dù ngồi không cần nhiều sự gắng sức về cơ bắp so với các công việc đòi hỏi thể lực như: làm vườn hay lau dọn sàn nhà, nhưng nó vẫn gây ra mệt mỏi. Tư thế ngồi yêu cầu các cơ bắp phải giữ thân, cổ và hai vai ở một tư thế cố định. Tư thế làm việc cố định ép chặt các mạch máu trong cơ, làm giảm lượng máu cung cấp tới các cơ đang làm việc ở thời điểm các cơ này cần máu nhất. Lượng máu cung cấp không đủ nhanh chóng gây ra hiện tượng mệt mỏi và làm cơ bắp dễ bị chấn thương.
Cũng có ít đòi hỏi đối với hệ tuần hoàn do hạn chế chuyển động khi đang ngồi. Điều này dẫn tới việc làm giảm hoạt động của tim và lưu thông máu. Duy trì một tư thế cố định thẳng đứng khi ngồi cũng làm giảm sự tuần hoàn của máu.
Lưu thông máu không phù hợp, đặc biệt máu quay trở về tim từ hai chi dưới, sẽ gây ra hiện tượng xuống máu. Áp lực lên phía dưới cạnh hai bắp đùi từ chỗ ngồi là quá lớn và có thể làm trầm trọng thêm hiện tượng này. Hậu quả gây ra sưng hoặc nhức mỏi hai chân và thậm chí bị giãn tĩnh mạch. Tương tự như vậy, lượng máu cung cấp cho các cơ bắp giảm sẽ gây mệt mỏi. Lượng máu cung cấp ít đi giải thích lý do tại sao người lao động ngồi làm việc cả ngày và ít làm những công việc yêu cầu thể lực thường cảm thấy mệt mỏi vào cuối ca làm việc.
Làm việc ở tư thế ngồi có thể gây ra những chấn thương ảnh hưởng tới khả năng vận động không?
Khả năng vận động bị giới hạn góp phần tạo nên chấn thương tại các bộ phận cơ thể chịu trách nhiệm về cử động như: các cơ bắp, xương, gân và dây chằng. Một yếu tố khác là sự ổn định được khu biệt ở những vùng nhất định của cơ thể. Cổ và thắt lưng là những vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng nhất. Tại sao lại như vậy? Tư thế ngồi khi kéo dài sẽ:
– làm giảm chuyển động cơ thể, làm tăng khả năng các cơ bắp bị kéo dãn, bị chuột rút hoặc kéo căng khi bị căng ra đột ngột.
– gây đau mỏi các cơ lưng và cơ cổ do lượng máu cung cấp chậm và đặt sức căng cao lên cột sống, đặc biệt ở phần thắt lưng hoặc cổ, và
– gây ra lực ép liên tục lên các đĩa đệm cột sống, cản trở việc cung cấp dưỡng chất và có thể góp phần gây ra hiện tượng thoái hóa sớm.
Khía cạnh nào của làm việc ở tư thế ngồi phải chịu trách nhiệm về những ảnh hưởng gây ra bệnh tật?
Tư thế không phù hợp chịu trách nhiệm chính đối với những ảnh hưởng gây ra bệnh tật, tạo nên bởi tư thế ngồi kéo dài. Quá trình ngồi làm việc cũng được coi là một nhân tố rủi ro.
Các tư thế cơ thể không phù hợp có thể bắt nguồn từ thiết kế công việc không phù hợp, yêu cầu người lao động ngồi liên tục trong một khoảng thời gian kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Không gian làm việc không phù hợp cản trở người lao động ngồi làm việc ở một vị trí cân bằng có thể gây ra các tư thế không phù hợp. Việc sắp xếp về mặt vật lý các yếu tố không gian làm việc như: bề mặt làm việc, dụng cụ và thiết bị làm việc có thể không phù hợp với tầm với và khoảng trống xung quanh chỗ người lao động ngồi làm việc. Trạm làm việc có thể cũng không phù hợp do ghế ngồi quá cao hoặc quá thấp so với kích thước và hình dáng của người lao động.
Liệu có tồn tại một tư thế ngồi an toàn?
Đối với từng khớp chính như: các khớp háng, đầu gối và khửu tay; có các phạm vi, và trong các phạm vi đó tất cả những người có sức khỏe tốt đều có thể tìm được một tư thế thoải mái. Những tư thế này không được cản trở hoạt động hô hấp hoặc tuần hoàn của con người, can thiệp vào các hoạt động của cơ bắp hoặc cản trở những chức năng thông thường của các cơ quan nội tạng. Các tư thế đa dạng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành “tư thế ngồi an toàn”. Do vậy, tư thế ngồi làm việc an toàn sẽ cho phép người lao động thay đổi các tư thế cơ thể thường xuyên và tự nhiên bên trong một phạm vi cho phép và vào bất cứ khi nào họ muốn mà không bị cản trở bởi trạm làm việc hoặc thiết kế công việc.
Bạn có thể giảm bớt những ảnh hưởng không tốt của việc ngồi làm việc kéo dài như thế nào?
Một tư thế ngồi an toàn tại nơi làm việc tập trung vào ba nội dung chủ yếu sau:
– thiết kế nơi làm việc (bao gồm các nhiệm vụ, trạm làm việc và thiết kế ghế ngồi),
– thiết kế công việc,
– đào tạo và huấn luyện.
Không nội dung nào trong số ba nội dung kể trên quan trọng hơn các nội dung còn lại, và cũng không nội dung nào có thể một mình đem lại sự cải thiện mang tính bền vững. Các khuyến nghị về việc ngồi như thế nào cho phù hợp không mang tính bắt buộc. Đôi khi, có thể cho phép các tư thế được vượt ra ngoài phạm vi cho phép nhằm giảm bớt hiện tượng căng cơ.
Những thành tố nào tại nơi làm việc đóng vai trò quan trọng đối với sự thoải mái của một người lao động làm việc ở tư thế ngồi?
Thiết kế nơi làm việc cần cho phép người lao động thực hiện công việc một cách thoải mái và an toàn, đồng thời cho phép họ tạo ra những thay đổi tự nguyện trong tư thế lao động. Để đạt được điều này, việc thiết kế cần bao gồm những thành tố sau:
– nhiệm vụ
– trạm làm vệc
– ghế ngồi
Việc thiết kế nhiệm vụ có thể cải thiện được công việc ở tư thế ngồi như thế nào?
Cần tính đến rằng công việc có thể đòi hỏi cả thị giác, thao tác bằng tay hoặc các nhiệm vụ thực hiện bằng chân hoặc sự kết hợp của tất cả các yếu tố này.Từng dạng nhiệm vụ kể trên yêu cầu những thay đổi khác nhau trong việc thiết kế công việc.
Những nhiệm vụ về thị giác đặt sức căng lên phần cổ, phần thân và khung xương chậu để cơ thể duy trì ở một vị trí mà mắt có thể nhìn thấy và duy trì tầm nhìn được yêu cầu trong suốt khoảng thời gian cần thiết. Điều quan trọng ở đây là thiết kế trạm làm việc sao cho giảm bớt được sức căng ở cổ. Tại nơi không thể xác định vị trí làm việc chính xác, lịch trình làm việc cần rút ngắn về thời gian mà người lao động dành để thực hiện từng nhiệm vụ.
Cả chuyển động và các lực tham gia vào các nhiệm vụ thực hiện bằng tay đều ảnh hưởng đến tư thế cơ thể. Đối với các nhiệm vụ thao tác bằng tay nhẹ nhàng, cần hỗ trợ cho cổ tay và bàn tay. Đối với các nhiệm vụ nặng nhọc hơn, cần hỗ trợ sắp xếp mặt phẳng làm việc dưới độ cao khuỷu tay của người lao động. Việc bố trí trạm làm việc cần cho phép người lao động giữ được xương sống thẳng khi sử dụng lực. Người lao động không nên nâng và chuyển các vật nặng theo phương nằm ngang.
Người lao động thực hiện các nhiệm vụ bằng chân cần có bàn đạp được bố trí trực tiếp phía trước họ để đề phòng bị vặn các khớp háng. Điều quan trọng là người lao động có thể đỡ được cơ thể mình một cách cân bằng.
Tất cả các thành phần của trạm làm việc, như ghế ngồi, máy tính, bàn công tác hay bảng panen trong một phòng điều khiển… tất cả đều ảnh hưởng tới tư thế cơ thể của người lao động. Một trạm làm việc cũng cần cho phép những thay đổi thường xuyên của một loạt các tư thế cơ thể.
Làm thế nào để lựa chọn được ghế ngồi phù hợp?
Một nguyên tắc cơ bản về ecgônômi là không có gì được coi là người “ở mức trung bình”; tuy nhiên, việc cung cấp ghế ngồi được thiết kế cho cá nhân từng người lao động là không khả thi. Giải pháp duy nhất là cung cấp cho người lao động một chiếc ghế có khả năng điều chỉnh, có thể điều chỉnh phù hợp cho hầu hết mọi người (từ 90 đến 95% dân số). Chiếc ghế này phải có các tính năng điều khiển cho phép dễ dàng điều chỉnh độ cao chỗ ngồi và độ nghiêng, cũng như độ cao và góc nghiêng của tựa lưng. Điều quan trọng là người lao động có thể vận hành các tính năng điều khiển này từ một tư thế ngồi. Thiết kế ghế ngồi cũng cần phải phù hợp với các nhiệm vụ.
Một khoảng thời gian dùng thử là hết sức cần thiết đối với quá trình lựa chọn một chiếc ghế. Người lao động nên sử dụng chiếc ghế trong tình huống làm việc thực tế và bảo đảm nó đáp ứng được các yêu cầu của công việc trước khi đưa ra lựa chọn cuối cùng.
Bạn có thể thiết kế một công việc yêu cầu phải ngồi lâu như thế nào?
Cho dù nơi làm việc được thiết kế tốt đến mức nào đi nữa, thì một người lao động ngồi làm việc liên tục kéo dài sẽ phải chịu đựng cảm giác khó chịu. Mục tiêu chính của việc thiết kế công việc trong tình huống này là nhằm giảm thiểu thời gian mà người lao động dành “chỉ để” ngồi. Thay đổi tư thế ngồi thường xuyên là không đủ để bảo vệ nhằm chống lại hiện tượng xuống máu chân ở người lao động.
Điều độ cứ 40 đến 50 phút ngồi lại dành năm phút cho hoạt động mạnh như đi lại… có thể giúp bảo vệ người lao động. Những khoảng thời gian nghỉ này cũng đem lại lợi ích bởi chúng giúp tim, phổi và các cơ bắp được tập luyện. Nếu khả thi, thì công việc cần kết hợp với “các hoạt động nghỉ giải lao” ví dụ như: các nhiệm vụ liên quan đến công việc yêu cầu phải đi khỏi bàn làm việc hay những bài tập thể dục đơn giản mà người lao động có thể thực hiện ngay tại nơi làm việc.
Một khía cạnh khác rất quan trọng trong việc thiết kế công việc chính là sự phản hồi từ phía người lao động. Tham vấn người lao động có thể giúp xây dựng được các giải pháp chi tiết cho từng cá nhân, đồng thời cá nhân hóa được công việc của họ.
Những thành tố nào của chương trình giáo dục và huấn luyện đóng vai trò quan trọng đối với người lao động làm việc ở tư thế ngồi?
Những thực hành công việc cá nhân, bao gồm các thói quen ngồi, được định hình thông qua hoạt động giáo dục và huấn luyện chính xác. Khuyến khích người sử dụng lao động và người lao động áp dụng các biện pháp giảm thiểu mệt mỏi từ khối lượng công việc quá ít hay quá nhiều.
Giải thích các nguy cơ sức khỏe của việc ngồi làm việc lâu và đưa ra các khuyến nghị đối với người lao động tại một nơi làm việc cụ thể có thể làm gì để cải thiện tư thế làm việc của mình. Người lao động cần biết cách điều chỉnh trạm làm việc sao cho phù hợp với các yêu cầu của cá nhân để phục vụ các nhiệm vụ cụ thể. Họ cũng cần biết cách điều chỉnh lại trạm làm việc trong suốt ngày làm việc để giảm bớt căng cơ.
Nhấn mạnh vào tầm quan trọng của các khoảng thời gian nghỉ giải lao đối với sức khỏe người lao động và giải thích làm thế nào việc nghỉ ngơi chủ động có thể giúp người lao động giữ gìn sức khỏe hơn việc nghỉ ngơi thụ động. Hiệu quả của công tác huấn luyện này có thể vượt ra ngoài các tình huống làm việc, bởi người lao động có thể áp dụng kiến thức thu nhận được vào cuộc sống bên ngoài công việc của mình.
Biên dịch: Bích Hà
(Nguồn tin: ccohs.ca)
