Sức khỏe người lao động ngành xây dựng dân dụng, một vấn đề nóng bỏng cần quan tâm nhiều hơn

Thứ Sáu, 01/12/2023, 04:46(GMT +7)

Xây dựng dân dụng- một ngành kỹ thuật lâu đời, chuyên nghiệp của ngành xây dựng, bao gồm xây dựng nhà ở (nhà chung cư, nhà riêng lẻ) và các công trình công cộng (công trình văn hóa, công trình giáo dục, công trình y tế…) đã có những thành tựu rất quan trọng, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị của đất nước.

Nhưng bên cạnh đó ngành xây dựng cũng gặp phải một số khó khăn như: hầu hết lực lượng lao động là lao động phổ thông chưa có trình độ chuyên môn về xây dựng; cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên vật liệu còn thô sơ, lạc hậu. Đồng thời với điều kiện lao động đặc thù, khó khăn, phức tạp, nguy hiểm và độc hại, người lao động phải làm việc ngoài trời, trên cao, dưới sâu, sản phẩm đa dạng, địa bàn lao động luôn thay đổi.

Để tìm hiều những bất cập trên, năm 2012, nghiên cứu “Thực trạng điều kiện lao động, tình hình sức khỏe và dịch vụ Y tế lao động trong ngành Xây dựng dân dụng 2012” được tiến hành và đưa ra nhiều kết quả ý nghĩa phục vụ cho việc định hướng, lập kế hoạch, xây dựng chính sách nhằm cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ sức khỏe cho người lao động ngành xây dựng dân dụng (XDDD).

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Phần lớn người lao động ngành XDDD có sức khỏe loại II và III, tuy nhiên vẫn còn 0,7-1,5% loại V. người lao động trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) có tỷ lệ mắc các bệnh cao hơn nhiều so với người lao động thi công xây lắp, trong đó các bệnh đường hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (viêm mũi họng, thanh quản mãn 41,3-54,9%), bệnh mắt (30-48%), dạ dầy (20-27%), cơ xương (14-19%). Tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp và bệnh liên quan đến nghề nghiệp ở người lao động sản xuất VLXD (7,7%) cao hơn NGƯờI LAO ĐộNG thi công xây lắp (3,7%) P < 0,001.

Trong đó bệnh bụi phổi silic (0,9%), điếc nghề nghiệp (0,3%). Tai nạn lao động (TNLĐ)trong nghề sản xuất VLXD chiếm tỷ lệ cao (32,3-56,5%), tiếp theo là nghề thi công xây lắp chiếm 4,8-6,3%. Mức độ tổn thương chung loại rất nhẹ chiếm cao nhất 40-80%, mức độ rất nặng có tỷ lệ 8,3-11,1%. (Hồi cứu 3 năm).

Về điều kiện lao động: Nghề sản xuất VLXD có tỷ lệ sản xuất tiếp xúc với các yếu tố độc hại và làm việc trong điều kiện nặng nhọc, căng thẳng cao hơn nghề thi công xây lắp: Tỷ lệ tiếp xúc với các yếu tố độc hại cao nhất là bụi (78,7%), sau đó là tiếng ồn (63,2%) và nóng 51,7%; Tỷ lệ lao động trong điều kiện nặng nhọc chiếm 60% và căng thẳng là 21,8%.

Trong khi đó khả năng đáp ứng dịch vụ y tế lao động cơ bản của ngành XDDD vẫn chưa được tốt: Hoạt động dịch vụ y tế lao động cơ bản hầu hết đều ở mức thấp dưới 10% trong 3 năm 2009-2011 như lập kế hoach an toàn vệ sinh lao động là 7,6 – 9,1%, truyền thông 6,7 – 9%, phòng chống TNLĐ 7,3 – 7,5% và giám sát môi trường lao động 6,2 – 7,2%.

Với đặc thù của ngành, đa số công nhân, lao động làm việc trong điều kiện môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại, lao động làm việc thủ công chiếm tỷ lệ cao… Do đó, để tăng cườ ng công tá c quả n lý  vệ  sinh lao động, chăm sóc sức khỏe  người lao động, phòng chống bệnh nghề  nghiệp, tai nạn lao động thì  cần phải thực hiện nhiều giải pháp quyết liệt, đồng bộ như: Thực hiện các giải pháp kỹ thuật làm giảm các yếu tố độc hại xuống dưới TCCP; Thực hiện đầy đủ các quy định của nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động và các chế độ bảo hộ lao động; Trang bị đầy đủ cho người lao động các phương tiện phòng hộ có hiệu quả đặc biệt là các loại khẩu trang có hiệu quả lọc bụi cao, nút tai chống ồn, găng, ủng, kính,  quần áo bảo hộ; Tăng cường công tác an toàn vệ sinh lao động, nhất là với người lao động làm việc xây dựng nhà cao tầng để hạn chế TNLĐ nguy hiểm; Hàng năm cần tổ chức giám sát môi trường lao động, khám sức khỏe định kỳ và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Những trường hợp phát hiện bệnh cần được điều trị kịp thời và theo dõi sức khỏe; Tăng cường công tác truyền thông giáo dục cho người lao động và người sử dụng lao động về các yếu tố nguy cơ cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe để người lao động có ý thức tự bảo vệ sức khỏe của mình; Tăng cường nguồn nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng để thực hiện các hoạt động y tế lao động trong  ngành.

Đây là một trong những nghiên cứu có quy mô cả nước và đi đầu trong ngành XDDD, kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu có nhiều hướng giải quyết đúng đắn về  an toà n vệ  sinh lao độ ng, phòng chống bệ nh nghề  nghiệp, phòng chống tai nạn lao động của các cơ sở  lao động trong ngành XDDD.

(Tài liệu Dự án Bảo vệ sức khỏe người lao động

do Bộ Y tế lao động và phúc lợi Nhật Bản tài trợ thông qua Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam)


(Nguồn tin: )