Thực trạng công nghệ xử lý khí thải khu vực phía Nam
PGS.TS. Nhà giáo Ưu tú. Đinh Xuân Thắng
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Môi trường HOA LƯ
TÓM TẮT
Ô nhiễm không khí – một trong các dạng ô nhiễm môi trường đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Trong những năm vừa qua, với những nỗ lực rất lớn của các cấp chính quyền; sự đầu tư với kinh phí nhất định của các Doanh nghiệp, bước đầu đã giảm thiểu mức độ ô nhiễm gây ra cho môi trường không khí. Tuy nhiên, mức độ giảm thiểu vẫn chưa đáp ứng “làm sạch môi trường không khí” trong các hoạt động có liên quan đến phát triển kinh tế và xã hội. Có nhiều loại hình công nghệ xử lý khí thải đã được áp dụng tại các cơ sở sản xuất với các quy mô khác nhau đã góp phần không nhỏ việc giảm thiểu mức độ ô nhiễm.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, ví dụ: lựa chọn công nghệ xử lý chưa hợp lý do chưa hiểu cặn kỹ về nguồn ô nhiễm và chất ô nhiễm dẫn đến việc thiết kế; gia công và lắp đặt chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế cần xử lý; đặc biệt công tác vận hành; bảo hành và bảo trì các hệ thống xử lý thường bị các doanh nghiệp xem nhẹ, đối phó…, dẫn đến hiệu quả xử lý còn rất nhiều hạn chế; chất lượng khí thải sau xử lý thường vượt các Tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia (TCVN), Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) rất nhiều lần.
Bài viết này sẽ trình bày những đánh giá thực trạng áp dụng các công nghệ xử lý khí thải, hiện trạng công tác vận hành, bảo trì các thiết bị xử lý và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý khí thải.
I. MỞ ĐẦU
Ô nhiễm môi trường không khí là một trong các dạng ô nhiễm hiện nay cùng với ô nhiễm do nước thải; các loại chất thải rắn và chất thải nguy hại. Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường do nước thải và các chất thải rắn các loại thường được đề cập và quan tâm nhiều hơn là ô nhiễm môi trường không khí do khí thải các loại gây nên. Điều này cũng rất dễ giải thích vì ô nhiễm do nước thải và chất thải rắn thường là nguồn thải trực tiếp ra môi trường nước mặt; nước ngầm và mặt đất; kênh rạch,… ; bằng trực giác con người có thể dễ dàng nhận biết và cảm nhận. Trong những năm vừa qua, hoạt động thanh kiểm tra công tác bảo vệ môi trường của Cục Kiểm soát ô nhiễm; Cục kiểm soát các hoạt động bảo vệ môi trường; Trung tâm Quan trắc môi trường thuộc Tổng Cục Môi trường cùng với các địa phương đã có những thành tích rất đáng trân trọng. Rất nhiều các “điểm nóng” về ô nhiễm môi trường do thải nước thải; chất thải rắn và chất thải nguy hại ra môi trường vượt quá giới hạn cho phép đã được xử lý nghiêm khắc đã góp phần hạn chế rất nhiều mức độ và phạm vi ô nhiễm. Tuy nhiên, với ô nhiễm môi trường do khí thải chưa có nhiều vụ việc điển hình do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan.
Từ sau khi Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ban hành, các cơ sở sản xuất đã phần nào ý thức được trách nhiệm của doanh nghiệp đối với công tác bảo vệ môi trường. Số doanh nghiệp đầu tư các hệ thống xử lý mang tính đối phó giảm dần; tuy nhiên do ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm nên chi phí cho công tác bảo vệ môi trường luôn luôn là khó khăn cho các doanh nghiệp. Đó là lý do chính vì sao mặt dù có khá nhiều các cơ sở sản xuất đã đầu tư các hệ thống xử lý khí thải nói riêng và các hệ thống xử nước thải; chất thải rắn nói chung nhưng do nhiều lý do khác nhau, môi trường khống khí vẫn chịu nhiều ảnh hưởng do khí thải; hiệu suất xử lý của các công trình thường không ổn định; chưa đáp ứng yêu cầu chất lượng khí thải sau xử lý đạt các QCVN; TCVN tương ứng.
Để có cách nhìn nhận khách quan; đánh giá đúng thực trạng các công nghệ xử lý khí thải; công tác bảo hành; bảo trì và vận hành các hệ thống xử lý khí thải chưa có hiệu suất cao hoặc hiệu suất chưa ổn định; tuổi thọ giảm nhanh chóng,… cần thiết phải có kế hoạch; đầu tư chi phí cho công tác thanh kiểm tra; tìm ra nguyên nhân; rút kinh nghiệm; phổ biến và phát huy các công nghệ có hiệu quả; đề xuất các công nghệ tiên tiến; thích hợp với điều kiện Việt Nam là công việc hết sức cần thiết và mang tính thời sự cao. Từ các kết quả đánh giá đó sẽ giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước các cấp; các cơ sở sản xuất có đầu tư thích đáng về kinh phí và các biện pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí nói riêng và môi trường sống nói chung.
II. HIỆN TRẠNG XỬ LÝ KHÍ THẢI Ở CÁC TỈNH PHÍA NAM
2.1. Hiện trạng xử lý không khí bị ô nhiễm trong môi trường lao động
Lâu nay, khi đề cập đến vấn đề chất lượng môi trường không khí chúng ta thường ít quan tâm đến môi trường lao động; hay nói khác đi khi nói đến xử lý khí thải chúng ta ít quan tâm đến xử lý không khí bị ô nhiễm trong môi trường lao động; Ngay cả khi ban hành các QCVN liên quan đến chất lượng môi trường không khí và khí thải thải ra từ các nguồn ô nhiễm cũng không có QCVN nào có liên quan. Vì thế khi đánh giá chất lượng môi trường không khí trong các xưởng sản xuất chúng ta vẫn sử dụng Tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ) ban hành kèm theo Quyết định số 3733/2002/BYT. Thực chất nếu dùng TCVSLĐ để đánh giá còn rất nhiều vần đề cần phải đề cập do bộ tiêu chuẩn này còn cần phải bổ sung; chỉnh sửa cho phù hợp khi đánh giá. Vấn đề này sẽ được người viết đề cập ở các nội dung sau.
Trước hết, nói về hiện trạng xử lý không khí bị ô nhiễm trong môi trường lao động, ngoài biện pháp thu gom; sử dụng miệng hút để đưa về các hệ thống xử lý, các doanh nghiệp hầu hết đều sử dụng các biện pháp thông gió tự nhiên; thông gió nhân tạo và phổ biến nhất là sử dụng các quạt công nghiệp với vận tốc lớn nhằm phục vụ cho mục tiêu làm mát và pha loãng nồng độ các chất ô nhiễm trong môi trường lao động. Các loại hình công nghệ và chủ yếu dựa vào hình thái kiến trúc của nhà xưởng này khá phổ biến đối với các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô vừa và lớn. Một số doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư chi phí sử dụng các lớp cách nhiệt cho mái nhà nhằm giảm thiểu bức xạ mặt trời vào nhà. Biện pháp này khá hiệu quả nhưng có rất ít nhà máy áp dụng vì chi phí đầu tư ban đầu cáo và hầu hết các chủ doanh nghiệp ít quan tâm đến vấn đề này.
Đã có một số doanh nghiệp sử dụng biện pháp phun ẩm đoạn nhiệt bằng giấy lọc để giải quyết môi trường lao động và mang lại hiệu quả đáng kể. Ngoài ra, một số doanh nghiệp do đặc thù của sản phẩm đã sử dụng máy lạnh cho các phân xưởng sản xuất như: thuốc Tây; nông y dược; salonpas; …Ngoại trừ các doanh nghiệp này, số còn lại hầu hết có môi trường lao động chưa đạt theo TCVSLĐ của Bộ Y tế.
2.2. Hiện trạng xử lý khí thải các nguồn ô nhiễm
Trước hết, trong bài viết này không đề cập đến các nguồn ô nhiễm của các phương tiện trong giao thông vận tải như ô tô; xe máy; tàu hoả; tàu thuỷ,…; mà chỉ đề cập đến các nguồn điểm hay các nguồn tập trung; được thu gom và xử lý bằng các phương pháp khác nhau.
Theo thống kê chưa đầy đủ, có khoảng (75 – 80)% các nguồn thải đã được thiết kế; gia công và lắp đặt các hệ thống xử lý khí thải theo báo cáo đánh giá tác động môi trường; bản cam kết bảo vệ môi trường hay đề án bảo vệ môi trường đã được phê duyệt. Còn khoảng (20 – 25)% chưa lắp đặt các hệ thống xử lý cho các nguồn thải do một số báo cáo đánh giá tác động môi trường; bản cam kết bảo vệ môi trướng; đề án bảo vệ môi trường chưa đề xuất biện pháp xử lý phù hợp; một số trường hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ do khó khăn về kinh phí nên không xây dựng; hay với hầu hết >90% các doanh nghiệp hoạt động trng lĩnh vực chăn nuôi gia súc; gia cầm chưa xây dựng các biện pháp xử lý nguồn khí thải từ các quạt hút không khí từ chuồng trại thải ra môi trường và các cơ sở công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp có quy mô nhỏ.
Mặc dù còn những tồn tại nhất định nhưng có thể đánh giá các hệ thống xử lý đã góp phần giảm thiểu ô nhiễm đáng kể cho các doanh nghiệp; nhất là giai đoạn một vài năm đầu khi mới lắp đặt. Sau một thời gian ngắn do nhiều nguyên nhân khác nhau, các hệ thống xử lý đã mau chóng xuống cấp; hoạt động không hiệu quả hoặc hiệu suất xử lý không ổn định làm cho chất lượng khí thải từ các nguồn thải thường vượt các QCVN tương ứng. Một số hệ thống bị mục; nát hay gần như không hoạt động. Do khí thải thường phát thải bằng các ống thải có chiều cao; lại có thể phát tán và pha loãng nhanh,… nên các nguồn ô nhiễm khí thải thường ít “bị quan tâm” hơn ô nhiễm do nước thải. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể yên tâm là trong số các doanh nghiệp đã có hệ thống xử lý với chi phí đầu tư thích hợp và lựa chọn công nghệ hợp lý đã mang lại hiệu quả rất cao và chất lượng khí thải luôn đạt các QCVN tương ứng.
III. CÁC LOẠI HÌNH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ KHÍ THẢI PHỔ BIẾN
3.1. Công nghệ xử lý khí thải cho các loại lò đốt các nhiên liệu khác nhau
Khi đề cập đến các loại lò đốt nhiên liệu nói chung, thường chúng ta chỉ nghĩ đơn giản đó là đốt các loại nhiên liệu như: các loại dầu (FO, DO); than đá; khí hoá lỏng; củi; .. mà chưa đề cập đến các loại chất thải ở dạng biomas khác và tái chế như: củi ép; trấu; bã điều (vỏ hạt điều đã ép dầu); bã mía; vải vụn; giấy và bìa carton và các loại chất thải nguy hại (CTNH); nhất là trong điều kiện như Việt Nam hiện nay. Các loại nhiên liệu này thường được dùng cho các loại lò hơi; lò dầu tải nhiệt; lò sấy phục vụ cho các quá trình công nghệ khác nhau.
Thành phần và tính chất của khí thải thường bao gồm: bụi, SO2, NOx, CO2, CO, phenol, cardanol, cardol và các loại chất ô nhiễm khác tuỳ theo nhiên liệu đốt đầu vào. Với các loại nhiên liệu và chất thải công nghiệp thông thường hay tái chế, công nghệ xử lý tổng quát đang áp dụng hiện nay thường áp dụng là sử dụng phương pháp hấp thụ bằng các loại dung dịch hấp thụ khác nhau như: nước, NaOH, Ca(OH)2, Ca2CO3 với các nồng độ khác nhau. Tháp hấp thụ thường dùng là các loại: tháp rửa khí, tháp đệm, tháp đĩa hay sủi bọt. Khí thải từ lò đốt trước khi qua tháp hấp thụ được dẫn qua thiết bị làm nguội khí thải, sau quá trình hấp thụ khí thải được thải qua ống thải ra môi trường. Một số cơ sở sản xuất có tận dụng không khí đã được nung nóng khi qua thiết bị làm nguội tuần hoàn trở lại cung cấp cho lò đốt nhằm tăng hiệu quả cháy và giảm thiểu CO trong khí thải. Dung dịch hấp thụ thường được tuần hoàn nhiều lần trong quá trình xử lý. Cũng có một vài số ít doanh nghiệp không tuần hoàn dung dịch hấp thụ mà thải thẳng ra bể chứa và dẫn về hệ thống xử lý nước thải. Tuy nhiên, loại hình công nghệ này còn rất ít và chưa phổ biến. Hầu hết các doanh nghiệp không sử dụng thiết bị làm nguội và dung dịch hấp thụ tuần hoàn trở lại nhưng không bổ sung dung dịch hấp thụ thường xuyên, không có biện pháp giám sát nồng độ dung dịch trước khi bơm vào tháp hấp thụ. Đây là loại hình công nghệ đang rất phổ biến hiện nay. Tuy còn nhiều hạn chế và do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng có thể nói những doanh nghiệp đã xây dựng các hệ thống xử lý đã góp phần không nhỏ giảm thiểu ô nhiễm do các nguồn thải.
3.2. Công nghệ xử lý khí thải cho các loại lò đốt CTNH, lò đốt rác y tế
Thành phần chất thải đầu vào của các loại lò đốt này rất đa dạng và phức tạp hơn các loại lò đốt ở trên rất nhiều. Các loại chất thải bao gồm các loại bùn thải, dung môi, dầu nhớt, các loại vỏ bao bì chứa thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, các loại bông băng, kim chích, dây truyền dịch, các loại bệnh phẩm, nhau thai từ các quá trình phẫu thuật và khoa sinh của các bệnh viện.
Với các loại lò đốt này, thành phần và tính chất của khí thải ở đây rất đa dạng; phức tạp; tính độc khác nhau và rất nguy hiểm cho môi trường. Ngoài các chất ô nhiễm như khi đốt các loại nhiên trên như: bụi, SO2, NOx, CO2, CO, trong khí thải thường chứa thêm nhiều chất ô nhiễm khác là các hợp chất mang gốc Clo, CxHy, kim loại nặng, … đặc biệt là Dioxin và Furan. Với các chất ô nhiễm này hầu hết là các chất hữu cơ có cấu tạo mạch vòng; không thể hấp thụ trong dung dịch và hấp phụ trong chất hấp phụ, chỉ có thể đốt ở nhiệt độ cao để bẻ gãy các liên kết thành các chất ô nhiễm đơn giản hơn: CO2 và H2O ít ô nhiễm và dễ xử lý hơn.
Thông thường, do tính chất phức tạp nêu trên nên các loại lò đốt này thường được thiết kế với lò đốt 2 cấp: sơ cấp và thứ cấp. Thậm chí, có những nhà thiết kế còn thiết kế thêm các lò đốt bổ sung nhằm đốt triệt để hơn. Công nghệ xử lý khí thải thông thường sau khi qua buồng đốt sơ cấp có nhiệt độ giao động trong khoảng (500 – 900)0C thiêu đốt các loại chất thải rắn hoặc vừa rắn, lỏng; các chất ô nhiễm có thành phần là các chất hữu cơ dạng mạch vòng sẽ được thiêu đốt ở nhiệt độ từ (1.000 – 1.200)0C nhằm bẻ gãy các liên kết của các chất ô nhiễm này thành CO2 và H2O. Khí thải sau đó được dẫn qua thiết bị giải nhiệt làm nguội khí thải và qua thiết bị hấp thụ như các lò đốt nhiên liệu. Các dung dịch hấp thụ cũng thường sử dụng NaOH, Ca(OH)2, Ca2CO3 . Các quá trình vận hành và tái sử dụng tuần hoàn dung dịch hấp thụ cũng tương tự như các loại lò đốt nhiên liệu.
3.3. Công nghệ xử lý bằng phương pháp hấp thụ
Ngoài các lò đốt và đốt CTNH nêu trên, phương pháp hấp thụ thường được dùng khá phổ biến do ưu điểm của loại hình công nghệ này là có thể xử lý được cả bụi và khí độc. Tuỳ theo thành phần và tính chất khí thải, nồng độ của các chất ô nhiễm sẽ có các loại dung dịch hấp thụ khác nhau. Nhóm các nhà máy áp dụng công nghệ này khá phổ biến, đó là các nhà máy sản xuất hoá chất, xi mạ, các nhà máy thải ra bụi có kích thước nhỏ kèm theo các hơi khí độc, …
Nhìn chung, loại hình công nghệ này có phạm vi ứng dụng khá phổ biến và rộng rãi do ưu điểm của phương pháp này là vừa xử lý được cả bụi và hơi khí độc, có thể áp dụng cho cả dòng khí thải có nhiệt độ và độ ẩm cao, …
3.4. Công nghệ xử lý bụi bằng phương pháp khô
Xử lý bụi cho các nhà máy khác nhau cũng là một trong các loại hình khá phổ biến hiện nay. Các nhà máy có áp dụng các hệ thống xử lý bụi bằng phương pháp khô thường bao gồm nhà máy chế biến gỗ, thuốc Tây, các dây chuyền sang chai, phối trộn và đóng gói thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ sâu, các nhà máy sản xuất phân bón dạng bột, dạng hạt, các nhà máy xay xát lúa gạo, chế biến thức ăn gia súc, gia cầm, cơ khí có công đoạn phun bi và đánh bóng; nhà máy sản xuất cement, …
Công nghệ phổ biến thường áp dụng ở đây thường là buồng lắng bụi, xyclon hay túi vải. Một số các nhà máy thu hồi bụi để tái sử dụng cho quá trình sản xuất, một số nhà máy thu gom và tận dụng bụi thu được phục vụ cho quá trình tái chế chất thải hay làm nguyên liệu để sản xuất ra các sản phẩm khác như củi ép, ván ép từ mùn cưa hay làm chất đốt cho các nhà máy khác. Tuỳ theo mức độ cao hay thấp của nồng độ và thành phần, phân cấp hạt bụi, các công nghệ có thể áp dụng xử lý một cấp hay hai cấp hoặc kết hợp nhiều thiết bị khác nhau; ví dụ bụi thô sẽ áp dụng buồng lắng bụi và xiclon, bụi tinh sẽ áp dụng lọc túi vải. Một số nhà máy khác còn sử dụng lọc bụi tĩnh điện như sản xuất thép, cement. .. Nhìn chung, các loại hình công nghệ này được áp dụng rất rộng rãi và mang tính khả thi, đã góp phần khá quan trọng giảm thiểu ô nhiễm từ các nguồn thải nếu các hệ thống được thiết kế đúng và thu gom triệt để bụi sinh ra từ các nguồn ô nhiễm.
3.5. Công nghệ xử lý khí thải bằng thiết bị hấp phụ
Hấp phụ cũng là một loại hình công nghệ hiện nay đang được áp dụng tuy không phổ biến bằng phương pháp hấp thụ do phạm vi ứng dụng của loại hình công nghệ này thường áp dụng cho các nhà máy có các chất ô nhiễm có khả năng hấp phụ, nồng độ và lưu lượng khí thải thường thấp. Một số nhà máy phổ biến áp dụng công nghệ này như: các dây chuyền sản xuất thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ sâu dạng lỏng; các nhà máy có công đoạn sơn; đánh vernis như chế biến gỗ, các nhà máy phát sinh hơi dung môi, mùi hôi: chế biến bột cá, thức ăn gia súc, gia cầm.
Các vật liệu hấp phụ thường sử dụng nhiều nhất là than hoạt tính. Tuy nhiên, tuỳ theo chất lượng của than hoạt tính sẽ cho hiệu quả xử lý khác nhau. Tuy nhiên, do các thiết bị này hầu hết chưa được tính toán chi tiết cụ thể về lượng than sử dụng; thời gian thay than nên hiệu quả của các hệ thống cũng thường chỉ đạt được trong giai đoạn đầu. Ngoài than hoạt tính, một số chất hấp phụ khác cũng được áp dụng như ozelit, các loại chất xúc tác khác nhau. Tuy nhiên, do giá thành khá cao nên thường ít được áp dụng.
3.6. Một số loại hình công nghệ khác
Ngoài các công nghệ phổ biến nêu trên, một số loại hình công nghệ khác cũng đã được áp dụng, cụ thể như sau:
– Các thiết bị ngưng tụ một số loại hơi khí độc có khả năng ngưng tụ ở nhiệt độ và áp suất thấp;
– Thiêu đốt khí thải hay phương pháp nhiệt có và không có súc tác;
– Xử lý mùi hôi: thông thường các công nghệ này thường áp dụng là chế phẩm hoặc cáchệ thống hấp phụ đã mô tả ở trên kết hợp với các hệ thống xử lý bụi và sử dụng các loại chế phẩm trong một số trại chăn nuôi.
Tuy nhiên các công nghệ này chưa được áp dụng rộng rãi. Với các trang trại chăn nuôi hầu như chưa có trang trại nào áp dụng các công nghệ phù hợp để xử lý nguồn khí thải do các quạt hút thải ra từ chuồng trại và mùi hôi từ việc thu gom, chứa tạm và xử lý phân.
IV. THỰC TRẠNG VẬN HÀNH, BẢO DƯỠNG CÁC HỆ THỐNG XỬ LÝ
Vận hành đúng quy trình và bảo hành, bảo trì các thiết bị là yếu tố rất quan trọng giúp cho hệ thống hoạt động ổn định, tuổi thọ công trình cao và chất lượng khí thải sau hệ thống xử lý đạt các QCVN với các hệ số tương ứng. Ngoại trừ rất ít các doanh nghiệp có hệ thống xử lý có chất lượng khí thải đạt QCVN; doanh nghiệp ý thức được nghĩa vụ trong công tác bảo vệ môi trường đã có các kỹ sư chuyên trách phụ trách công tác này hoặc một số doanh nghiệp đã thuê chính các đơn vị tư vấn đã thiết kế và lắp đặt hệ thống xử lý trực tiếp vận hành các hệ thống và chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lý Nhà nước về chất lượng khí thải sau xử lý phải đạt các QCVN tương ứng.
Phần lớn các doanh nghiệp còn lại thường ít quan tâm đến việc vận hành đúng quy trình của hệ thống; ví dụ thường không thay thế hoặc bổ sung dung dịch hấp thụ cho đủ nồng độ là lưu lượng phục vụ cho hệ thống xử lý nhằm đạt hiệu quả xử lý như thiết kế; thường ít khi nào vệ sinh thiết bị, xả cặn lắng, … trong các thiết bị hấp thụ, không thay than đúng định kỳ nhằm nâng cao hiệu quả hấp phụ, với các thiết bị sử dụng phương pháp nhiệt thông thường nhiệt độ theo yêu cầu ở buồng đốt thứ cấp không đạt theo yêu cầu,… Đối với việc bảo hành và bảo trì thiết bị xử lý; quạt gió, các bể chứa cặn lắng,… thì hầu như không được quan tâm hoặc chỉ thực hiện khi nào bị kiểm tra, hoặc khi bị thưa kiện hoặc sự cố của hệ thống.
V.NHỮNG TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN
5.1. Đối với môi trường lao động
Ngoại trừ một số nhà máy do loại hình đặc thù về chất lượng của sản phẩm nên có sử dụng máy lạnh cho các xưởng sản xuất, phần lớn còn lại các nhà máy xí nghiệp đều có môi trường lao động đều chưa đạt theo yêu cầu của TCVSLĐ ban hành kèm theo Quyết định số 3733/2002/BYT. Một trong những tồn tại rất quan trọng ở đây là khi đo đạc, giám sát định kỳ hầu hết các nhà máy lại đều có môi trường lao động đạt theo TCVSLĐ nêu trên.
Nguyên nhân quan trọng ở đây là việc áp dụng TCVSLĐ còn nhiều vấn đề cần đề cập. Ví dụ, theo TCVSLĐ này chưa quy định chặt chẽ, cụ thể lấy mẫu ở đâu? Chiều cao so với mặt đất, vị trí nào là cần thiết, đặc biệt là ở thời điểm nhạy cảm có các yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến môi trường lao động như nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ chuyển động và độ trong sạch của không khí trong môi trường lao động là khoảng thời gian từ (12 – 15) giờ là khi bức xạ mặt trời lớn nhất và việc tích tụ nồng độ các chất ô nhiễm trong nhà xưởng cao nhất lại chưa được quy định cụ thể khi lấy mẫu giám sát chất lượng môi trường lao động. Mặt khác, trong khi có rất nhiều QCVN đã ban hành liên quan đến chất lượng khí thải và môi trường không khí xung quanh, nhưng lại chưa có QCVN nào nói về chất lượng môi trường lao động.
5.2. Về chất lượng khí thải sau các hệ thống xử lý
Tồn tại lớn nhất và thường xuyên xảy ra hiện nay của các hệ thống xử lý là hiệu suất của thiết bị không ổn định, chất lượng khí thải sau xử lý thường không đạt theo QCVN tương ứng; Các hiện tượng ăn mòn thiết bị, phá huỷ công trình dẫn đến tuổi thọ của các công trình rất thấp.
Nguyên nhân có rất nhiều nhưng điều quan trọng và cơ bản nhất là khi thiết kế các hệ thống xử lý phần lớn các nhà tư vấn chưa hiểu rõ; chi tiết đến nguồn ô nhiễm và chất ô nhiễm. Cùng với nước thải, khí thải cũng là chất lỏng nhưng khác với nước thải ở nhiều điểm do: thể tích riêng của khí thải rất lớn và thay đổi rất nhanh khi nhiệt độ khí thải thay đổi. Khí thải thường phát tán, pha loãng khá nhanh, ngoài ra chúng còn biến đổi hoá học khi phát thải ra môi trường. Các quá trình nêu trên chịu ảnh hưởng rất nhiều do các yếu tố về nguồn: chiều cao, đường kính của nguồn; nhiệt độ và nồng độ các chất ô nhiễm; các yếu tố về khí tượng thuỷ văn và cả các yếu tố về địa hình. Bên cạnh đó, do không “cô lập tối đa” nguồn ô nhiễm và chất ô nhiễm dẫn đến việc thu gom chưa triệt để. Một trong các nguyên nhân rất quan trọng nữa, đó là việc lựa chọn công nghệ chưa hợp lý thể hiện qua chất lượng khí thải phải đạt QCVN tương ứng, chi phí hợp lý và yếu tố rất quan yrọng là phải phù hợp với vị trí lắp đặt của từng doanh nghiệp cụ thể. Một số nguyên nhân khác như đã phân tích ở trên như chế độ vận hành, vệ sinh và bảo trì thiết bị cũng làm cho chất lượng khí thải không ổn định và đạt QCVN tương ứng.
Một trong những tồn tại và đang là vấn đề phổ biến hiện nay là nồng độ CO trong khí thải của các lò đốt nhiên liệu và chất thải khác nhau rất cao, thường vượt QCVN 19:2009/BTNMT, QCVN 30:2011/BTNMT từ (3 – 5) lần, thậm chí lớn hơn rất nhiều lần. Ngoại trừ một số lò đốt tương đối hiện đại, có quy trình vận hành chế độ đốt bằng tự động và một số lò đốt có tuần hoàn không khí nóng từ thiết bị giải nhiệt hoặc các thiết bị đốt dạng tầng sôi thường có CO thấp ra, số còn lại hầu hết CO đều không đạt theo yêu cầu. Nguyên nhân tạo ra CO cao là do quy trình vận hành chưa phù hợp, tỷ lệ cấp khí và nhiên liệu hay chất thải cần đốt chưa tương thích và điều quan trọng nhiều người nhầm lẫn là CO có thể hấp thụ vào nước hay dung dịch hấp thụ.
Một trong những tồn tại nữa ít được quan tâm hiện nay, đó là mặt dù chất lượng môi trường lao động cũng như chất lượng khí thải sau thiết bị xử lý đều chưa đạt theo các TCVN, QCVN tương ứng, hiện tượng ô nhiễm do khí thải xảy ra rất nhiều nhưng hầu như tất cả các báo cáo giám sát định kỳ hàng năm của tất cả các doanh nghiệp đều đạt các TCVN và QCVN theo quy định. Nguyên nhân nào là chủ yếu dẫn đến tồn tại này? Theo người viết, điều quan trọng ở đây là do các cơ quan chức năng về quản lý môi trường ở các địa phương do thiếu nguồn lực về con người và năng lực chuyên môn. Do vậy gần như chưa có sự kiểm tra, đánh giá chất lượng các báo cáo giám sát. Các đơn vị tư vấn thường làm “vừa lòng” các doanh nghiệp để có việc làm bằng hình thức “cố tình” lập báo cáo giám sát với chất lượng khí thải sau hệ thống xử lý và môi trường lao động luôn luôn đạt các QCVN, TCVN tương ứng.
Một vấn đề nữa không thể không đề cập tới là các nguồn ô nhiễm từ các trại chăn nuôi chưa được quan tâm đúng mức. Do đặc thù nằm xa khu dân cư do quy hoạch của các địa phương, do vậy việc gây ảnh hưởng cho các khu dân cư là rất ít. Tuy nhiên mức độ ô nhiễm môi trường lại rất trầm trọng do tải lượng và nồng độ các chất ô nhiễm lại rất lớn.
5.3. Về cơ sở vật chất và nguồn lực cán bộ
Hiện nay, tính trạng chung tại các địa phương thiếu thốn rất nhiều trang thiết bị phục vụ cho công tác giám sá, lấy mẫu và phân tích chất lượng môi trường không khí. Các địa phương, các cơ quan chuyên môn đã có nhiều nỗ lực trang bị các phòng thí nghiệm nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, mức độ phát triển chưa tương xứng với nhu cầu của xã hội. Do vậy chất lượng các kết quả phân tích cũng là một trong các yếu tố cần xem xét về độ tin cậy của kết quả do số lượng mẫu lấy quá ít. Đó là chưa kể việc lấy mẫu chưa đúng phương pháp và còn nhiều bất cập khác. Về đội ngũ cán bộ chuyên sâu về công nghệ xử lý khí thải cũng còn thiếu rất nhiều, kết hợp với việc đi sâu nghiên cứu về khí thải khó khăn và phức tạp hơn nước thải, chất thải rắn nói chung,.. cũng là một rào cản không nhỏ đối với xã hội.
VI. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
Để nâng cao hiệu quả của các hệ thống xử lý khí thải cả trong môi trường lao động cũg như chất lượng khí thải sau các hệ thống xử lý, người viết xin mạnh dạn đề xuất các biện pháp sau đây:
1. Cần phải nâng cao chất lượng các Báo cáo Đánh giá tác động môi trường trong quá trình xét duyệt để loại bỏ các báo cáo kém chất lượng và các đơn vị tư vấn có năng lực chuyên môn yếu trong hoạt động lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và Kế hoạch bảo vệ môi trường;
2. Tại các cơ quan lý môi trường địa phương (Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các KCN, KCX, KKT, các Phòng Tài nguyên và Môi trường các Quận, huyện) cần tăng cường đội ngũ cán bộ cả về số lượng và chuyên môn nhằm kiểm tra chặt chẽ chất lượng các báo cáo giám sát định kỳ để nâng cao hoạt động này một cách hiệu quả nhất.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường nên ban hành QCVN về môi trường lao động hoặc kết hợp với Bộ Y tế bổ sung; chỉnh sửa TCVSLĐ ban hành kèm theo Quyết định số 3733/2002/BYT cho chặt chẽ và chi tiết hơn nhằm nâng cao hiệu quả và đánh giá đúng chất lượng môi trường lao động hiện nay.
4. Tăng cường kiểm tra, giám sát các hoạt động bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp sau khi cấp Giấy xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường.
5. Nên tiến hành quy định bắt buộc đối với nhân sự vận hành các hệ thống xử lý phải có Chứng chỉ hành nghề do các cơ quan quản lý Nhà nước cấp.
VII. KẾT LUẬN
1. Chất lượng môi trường không khí nói riêng và chất lượng môi trường nói chung ngày càng tốt hơn do nỗ lực của tất cả cộng đồng; trong đó có sự nỗ lực rất lớn của các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp; các doanh nghiệp và sự đóng góp không nhỏ của các cơ quan hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ có liên quan.
2. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập như đã phân tích các nguyên nhân ở trên. Trong khuôn khổ tham luận này cũng không thể đánh giá hết được tất cả mọi vần đề ngoài những nội dung đã nêu ở trên.
3. Việc chú trọng và quan tâm nhiều hơn nữa đến chất lượng môi trường không khí nói riêng cần được thực hiện đồng bộ trong cả các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường, các doanh nghiệp, kể cả các Trường Đại học và các Viện nghiên cứu có đào tạo và nghiên cứu về môi trường.
VIII. KIẾN NGHỊ
1. Cần thiết phải có chính sách đầu tư phù hợp về văn bản pháp lý, chi phí đầu tư cho công tác thanh tra, giám sát, tăng cường nguồn lực cả cơ sở vật chất và con người cho lĩnh vực môi trường không khí nói riêng và môi trường nói chung;
2. Các cơ quan quản lý Nhà nước, các địa phương nên tập hợp, duy trì các đội ngũ chuyên gia giỏi trong lĩnh vực công nghệ xử lý không khí bị ô nhiễm cùng tham gia các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Trần Ngọc Chấn, Ô nhiễm không khí và kỹ thuật xử lý; Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, 2000;
- Đinh Xuân Thắng, Kỹ thuật lò đốt chất thải nguy hại. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2011;
- Đinh Xuân Thắng, Công nghệ xử lý chất thải rắn. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2011;
- Đinh Xuân Thắng, Kỹ thuật xử lý ô nhiễm không khí. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2011;
- Đinh Xuân Thắng, Dự án sản xuất thử thiết bị lọc ướt hướng tâm xử lý bụi và khí độc. Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2008;
- Một số tài liệu khác.
Theo: Tài liệu Hội thảo Môi trường toàn quốc lần thứ IV
(Nguồn tin: http://vea.gov.vn/)
