Lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân – Người dẫn dắt trong bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động
Trong bối cảnh kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, thành công của doanh nghiệp (DN) không chỉ đo bằng doanh thu hay thị phần, mà còn ở năng lực bảo vệ sức khỏe, tính mạng, sự an toàn của người lao động (NLĐ) và môi trường. Ở khối DN tư nhân – vốn đề cao tính linh hoạt, sáng tạo và tốc độ – công tác an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đôi khi chưa được quan tâm đúng mức. Chính trong bối cảnh này, vai trò của người lãnh đạo trở nên đặc biệt quan trọng. Họ không chỉ là người ra quyết định, mà còn là “ngọn đuốc” thắp sáng văn hóa an toàn (VHAT), truyền cảm hứng để xây dựng môi trường làm việc an toàn. Một môi trường như vậy không chỉ giảm thiểu rủi ro và tổn thất, mà còn nuôi dưỡng niềm tin, gắn kết và khát vọng cống hiến của NLĐ – nền tảng cho sự phát triển bền vững.
1. Bối cảnh và thách thức trong công tác an toàn vệ sinh lao động
Nghị quyết 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Khu vực kinh tế tư nhận hiện có hơn 940.000 DN và trên 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP[1]. Tuy nhiên, đa số là DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa (SNNvV), tiềm lực về khoa học công nghệ, trình độ quản lý chưa đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ hội nhập, chuyển đổi số, sản xuất xanh…
Để đạt mục tiêu tăng trưởng từ 8% trở lên trong năm 2025 và hướng tới mức hai con số trong các năm tiếp theo, cả nước cần đồng thời đẩy mạnh đầu tư, hiện đại hóa công nghệ, mở rộng sản xuất, chuyển đổi số, hội nhập sâu rộng và tinh gọn bộ máy. Song, sự phát triển đó phải đặt NLĐ ở vị trí trung tâm. Như Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, một nền kinh tế cường thịnh phải dựa vào khu vực tư nhân vững mạnh, nhưng sức mạnh đó không thể xây dựng bằng cách đánh đổi sức khỏe và tính mạng của NLĐ.
Trong thực tế, NLĐ – nhóm dễ bị tổn thương nhất về ATVSLĐ – đang phải đối mặt với nguy cơ gia tăng tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN). ATVSLĐ là yếu tố then chốt để bảo vệ sức khỏe và tính mạng NLĐ nhưng tại nhiều DN vẫn mang tính hình thức, thiếu đồng bộ. Giải quyết vấn đề này trong khu vực kinh tế tư nhân không chỉ là trách nhiệm pháp lý và đạo đức, mà còn là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm phát triển công bằng, bền vững và nhân văn. Trong đó, vai trò lãnh đạo DN giữ vị trí then chốt, dẫn dắt và định hướng để xây dựng ATVSLĐ bền vững.
2. Vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp trong công tác an toàn vệ sinh lao động
Theo pháp luật, người sử dụng lao động (NSDLĐ) không chỉ tập trung vào sản xuất kinh doanh mà còn phải bảo đảm ATVSLĐ. Đây vừa là yêu cầu bắt buộc, vừa là nền tảng xây dựng uy tín, hình ảnh và sự phát triển bền vững của DN.
2.1. Chịu trách nhiệm cao nhất về ATVSLĐ: NSDLĐ phải xây dựng, ban hành và duy trì chính sách, nội quy, quy trình làm việc an toàn; lập kế hoạch ATVSLĐ hằng năm; bố trí cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách; tổ chức huấn luyện ATVSLĐ cho NLĐ trước khi làm việc, định kỳ hoặc khi thay đổi công việc.
2.2. Đảm bảo điều kiện làm việc an toàn: trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN) đạt chuẩn; đánh giá nguy cơ rủi ro; áp dụng biện pháp kỹ thuật, tổ chức nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy hiểm; duy trì môi trường lao động (MTLĐ) đạt quy chuẩn quốc gia. DN cũng phải thường xuyên quan trắc MTLĐ, kiểm định và bảo dưỡng thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, cũng như phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng trong thanh tra, kiểm tra ATVSLĐ.
2.3. Quản lý và xử lý TNLĐ, BNN: Khi xảy ra TNLĐ, DN phải kịp thời cấp cứu, điều tra, lập biên bản và báo cáo theo quy định; chi trả chi phí y tế, trả lương trong thời gian NLĐ điều trị; bồi thường hoặc trợ cấp theo luật định; tổ chức khám sức khỏe định kỳ và chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật cho NLĐ làm việc trong điều kiện nguy hiểm, độc hại.
2.4. Chịu trách nhiệm pháp lý: Nếu vi phạm, DN có thể bị xử phạt hành chính, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng và phải bồi thường dân sự cho người bị thiệt hại.
Có thể thấy, lãnh đạo DN là trung tâm của công tác ATVSLĐ: vừa hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, giám sát, vừa chịu trách nhiệm trực tiếp trước pháp luật khi để xảy ra mất ATVSLĐ.
3. Ý nghĩa và lợi ích của công tác an toàn vệ sinh lao động tại cơ sở
3.1 . Ý nghĩa của công tác an toàn vệ sinh lao động tại cơ sở
– Thực hiện đầy đủ ATVSLĐ giúp DN tuân thủ Luật ATVSLĐ năm 2015 và các văn bản liên quan, tránh bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, đây là cách khẳng định uy tín của DN, thể hiện sự quan tâm đến sức khỏe và an toàn của NLĐ – yếu tố được đối tác, khách hàng và cộng đồng đánh giá cao, tạo lợi thế cạnh tranh.
– Khi được làm việc trong môi trường an toàn, NLĐ sẽ yên tâm, gắn bó và phát huy sáng tạo, từ đó giảm nguy cơ TNLĐ, BNN và nâng cao năng suất. Công tác ATVSLĐ tốt cũng góp phần giảm chi phí y tế, giảm gánh nặng cho hệ thống bảo hiểm xã hội, đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững và thể hiện trách nhiệm xã hội của DN.
3.2. Lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp
– Giảm thiệt hại và chi phí: Giảm tần suất TNLĐ giúp hạn chế chi phí đền bù, gián đoạn sản xuất, mất mát tài sản. Đồng thời, giúp tối ưu chi phí bảo hiểm TNLĐ, BNN.
– Nâng cao năng suất: NLĐ khỏe mạnh, an toàn sẽ làm việc ổn định và hiệu quả hơn.
– Thu hút và giữ chân nhân tài: môi trường an toàn là điểm cộng lớn trong tuyển dụng, giúp giữ nhân viên giỏi, giảm kiếu nại, đình công và xung đột lao động.
– Tạo lợi thế cạnh tranh và phát triển bền vững: đáp ứng yêu cầu của đối tác quốc tế về tiêu chuẩn an toàn như ISO 45001, các chuẩn mực quản trị hiện đại ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị), đồng thời bảo đảm hoạt động ổn định, không bị gián đoạn bởi sự cố lao động.
Tóm lại, thực hiện tốt ATVSLĐ không chỉ giúp DN giảm thiệt hại và rủi ro pháp lý, mà còn nâng cao năng suất, uy tín và giá trị thương hiệu. Đây là khoản đầu tư chiến lược cho sự phát triển lâu dài và bền vững.

Phân Viện ATVSLĐ & BVMT miền Trung phối hợp với công ty Cổ phần Acecook Việt Nam tổ chức huấn luyện ATVSLĐ cho NLĐ. Ảnh Thành Trung
4. Khó khăn trong triển khai an toàn vệ sinh lao động tại cơ sở
Trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là DN SNNvV, đã có chuyển biến tích cực trong công tác ATVSLĐ. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức lớn:
– Nhận thức còn hạn chế: Không ít chủ DN SNNvV cho rằng quy mô nhỏ thì không cần xây dựng hệ thống ATVSLĐ. Hệ quả là nhiều DN chủ quan, xem nhẹ hoặc thậm chí bỏ qua quy định pháp luật, không huấn luyện đầy đủ về ATVSLĐ cho NLĐ, để NLĐ làm việc trong môi trường có nhiều yếu tố nguy hiểm như hóa chất, bụi, tiếng ồn, nhiệt độ cao hay máy móc thiếu an toàn.
– Thiếu hệ thống và quy trình quản lý: Phần lớn các DN SNNvV thường không có bộ phận chuyên trách về ATVSLĐ mà chỉ do một cá nhân kiêm nhiệm, thậm chí bị bỏ trống. Quy trình, kế hoạch an toàn hầu như không được xây dựng hoặc chỉ làm hình thức.
– Điều kiện làm việc và trang thiết bị không đảm bảo: Nhiều DN SNNvV do thiếu vốn phải sử dụng nhà xưởng tạm bợ, chật hẹp, không có hệ thống thông gió, chiếu sáng hay thoát hiểm đạt chuẩn. Máy móc cũ kỹ, thiếu thiết bị an toàn; PTBVCN như khẩu trang, găng tay, giày bảo hộ… chưa được cấp phát đầy đủ, hoặc chỉ cấp phát mang tính đối phó khi có đoàn kiểm tra. Khám sức khỏe định kỳ ít được thực hiện, việc phân loại yếu tố nguy hiểm, độc hại để bố trí công việc phù hợp gần như bỏ ngỏ.
– Tình trạng vi phạm và tai nạn lao động phổ biến: Nhiều DN SNNvV vẫn vi phạm Luật ATVSLĐ nhưng khó bị phát hiện do hoạt động ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất. Một số DN chưa tham gia bảo hiểm TNLĐ, BNN cho NLĐ. Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, tỷ lệ TNLĐ nghiêm trọng ở khu vực này luôn cao, chủ yếu do vi phạm quy trình vận hành thiết bị, thiếu biện pháp kiểm soát rủi ro hoặc do NLĐ thiếu kỹ năng xử lý tình huống.
– Thiếu hỗ trợ và giám sát hiệu quả từ cơ quan quản lý: Công tác thanh tra, kiểm tra ATVSLĐ với SNNvV còn hạn chế vì lực lượng chức năng mỏng, DN lại phân tán và khó tiếp cận. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ về kỹ thuật, đào tạo và tài chính cho DN trong lĩnh vực ATVSLĐ chưa đủ mạnh, chưa sát với thực tế của DN SNNvV.
5. Giải pháp cải thiện quản lý an toàn vệ sinh lao động tại cơ sở
Trước thực trạng còn nhiều hạn chế, việc đưa ra các giải pháp quản lý ATVSLĐ cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là DN SNNvV, là hết sức cấp thiết. Một số giải pháp khả thi có thể được đề xuất như sau:
– Thay đổi mạnh mẽ nhận thức của lãnh đạo DN và phát huy vai trò Công đoàn: Lãnh đạo DN cần thay đổi tư duy, coi ATVSLĐ là yếu tố sống còn, gắn với văn hóa tuân thủ pháp luật. Họ phải là đối tượng được tuyên truyền, huấn luyện trước tiên. Bên cạnh đó, công đoàn cơ sở giữ vai trò then chốt trong nhận diện, đánh giá và quản lý rủi ro tại nơi làm việc; quản lý mạng lưới an toàn vệ sinh viên; tăng cường đào tạo và cập nhật kiến thức về các nguy cơ, rủi ro mới. Đồng thời, công đoàn cần quan tâm đến yếu tố gây áp lực tinh thần cho NLĐ như nguy cơ mất việc, giảm lương, tăng ca, áp lực từ công nghệ mới… vì đây cũng là nguyên nhân tiềm ẩn gây TNLĐ, BNN.
– Áp dụng các mô hình ATVSLĐ đơn giản, dễ triển khai: Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ mô hình 5S (Sàng lọc – Sắp xếp – Sạch sẽ – Săn sóc – Sẵn sàng) kết hợp với các tiêu chí an toàn Kaizen – triết lý cải tiến liên tục bằng những thay đổi nhỏ nhưng bền vững. Mô hình 5S – Kaizen không chỉ nâng cao năng suất mà còn tạo môi trường làm việc an toàn, lành mạnh, hướng đến hình thành văn hóa an toàn. Tuy nhiên, để duy trì hiệu quả lâu dài, đòi hỏi cam kết của lãnh đạo, sự tham gia của toàn thể NLĐ và nỗ lực cải tiến liên tục.
– Kết hợp đánh giá công việc với đánh giá an toàn: DN cần xây dựng chỉ số đánh giá (KPI) tích hợp, đo lường cả hiệu quả công việc và mức độ an toàn. Xây dựng cơ chế thưởng – phạt gắn với kết quả này, ví dụ thưởng cho nhóm vừa đạt năng suất vừa không để xảy ra tai nạn.
– Thiết kế quy trình sản xuất “an toàn mặc định”: Ngay từ khâu thiết kế, quy trình sản xuất phải gắn liền với tiêu chí an toàn, chẳng hạn: bố trí máy móc, bàn thao tác hợp lý để giảm mệt mỏi; chuẩn hóa thao tác an toàn trong quy trình chuẩn thử nghiệm, thay vì tách riêng ATVSLĐ ra ngoài.
– Xây dựng văn hóa an toàn tại DN: Xây dựng văn hóa an toàn là giải pháp căn cơ, bền vững và hiệu quả [4]. Doanh nghiệp cần xác định mục tiêu phù hợp với quy mô và điều kiện thực tế, đồng thời đưa văn hóa an toàn vào chiến lược phát triển của DN. Kinh nghiệm từ bộ tài liệu Văn hóa an toàn EVN (Quyết định 569/QĐ-EVN, ngày 30/5/2024) cho thấy vai trò lãnh đạo là yếu tố quyết định trong hình thành văn hóa an toàn.
Kết luận
Lãnh đạo DN, đặc biệt là khu vực tư nhân, giữ vai trò quyết định trong thành công của công tác ATVSLĐ. Đây không chỉ là yêu cầu pháp luật mà còn thể hiện trách nhiệm, sự quan tâm đến NLĐ.
Với đặc thù quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa, nhiều DN tư nhân vẫn gặp khó khăn khi triển khai ATVSLĐ, dẫn đến nguy cơ TNLĐ và BNN. Giải pháp có thể đa dạng, nhưng yếu tố then chốt vẫn là ý chí và cam kết của lãnh đạo, cùng với sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, DN, NLĐ và các tổ chức xã hội.
Khi ATVSLĐ được coi là một phần không thể tách rời trong chiến lược phát triển bền vững, các DN nhỏ không chỉ vượt qua thách thức mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68/NQ-TW về phát triển kinh tế tư nhân, ban hành ngày 4 tháng 5 năm 2025, ban hành ngày 4/5/2025.
[2] Mattila, S., Tappura, S., Karttunen, E. (2022), Promoting Occupational Safety, Health, and Well-Being in SME Manufacturing Companies, Safety Management and Human Factors, Vol 64, 191-197. DOI:10.54941/ahfe1002645.
[3] Do Thi Lan Chi (2024), Improving Economic Efficiency and Occupational Safety in Production Facilities Using the 5S-Kaizen Method, Sustainability in Environment ISSN 2470-637X (Print) ISSN 2470-6388 (Online) Vol. 9, No. 1. DOI:10.22158/se.v9n1p44.
[4] Yangho Kim, Jungsun Park, Mijin Park (2016), Creating a Culture of Prevention in Occupational Safety and Health Practice, Safety and Health at Work 7, 89-96. DOI: 10.1016/j.shaw.2016.02.002.
PGS.TS. Lê Minh Đức
Phân Viện Khoa học An toàn Vệ sinh lao động và Bảo vệ môi trường miền Trung
(Nguồn: Tạp chí KH An toàn – Sức khỏe và Môi trường lao động số 3/2025)
