Hóa chất độc

Thứ Sáu, 01/12/2023, 04:25(GMT +7)

Tác động qua lại giữa các hơi khí, hóa chất độc với cơ thể sống diễn ra trong các phân tử gồm: giai đoạn tác hại của các chất độc đối với cơ thể và giai đoạn tác động của cơ thể đối với chất độc.

Tác hại của chất độc đối với cơ thể được quyết định bởi các đặc tính hoá lý của chất độc và bản thân cấu trúc và đặc tính của các tế bào sống. Tác động của cơ thể đối với chất độc gồm hai quá trình : phân bố và chuyển hoá.
Quá trình phân bố gồm hấp thụ, vận chuyển, tích luỹ và thải chất độc. Quá trình chuyển hoá là quá trình biến đổi sinh học các chất độc.

* Quá trình hấp thụ chất độc

Các chất độc trong môi trường làm việc và môi trường sống có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hoá và da.

– Qua đường hô hấp : Sự hấp thụ qua phổi là đường thâm nhập chính của chất độc ở dạng : hơi , khói, bụi, khí dung… trong không khí.
Hệ thống hô hấp gồm các đường dẫn khí : mũi – họng, khí – phế quản, phần dưới gồm phế quản nhỏ dẫn tới phế nang hợp thành các tiểu thuỳ.
Khí, hơi hoà tan trong nước dễ dàng phân rã trong dịch niêm mạc đường hô hấp trên. Khí, hơi ít hoà tan hơn được hấp thụ ở phế nang. Khí hơi hoà tan trong mỡ qua các màng phế nang- mao, mạch lành.
Khí,  hơi hoà tan trong máu dễ bị hấp thụ. Các hạt không bị hoà tan bị giữ lại trong đường hô hấp có thể thải ra theo ba cơ chế: bằng lớp mao dịch, bằng thực bào và bằng xâm nhập trực tiếp qua biểu mô phế nang.

– Qua đường tiêu hoá: Hấp thụ chất độc có thể theo đường thức ăn, đồ uống hoặc nuốt phải khi các hạt hoà tan hít vào đường hô hấp bị đẩy theo hệ thống mao dịch lên miệng.

Dạ dày hấp thụ các chất không phân cực bằng khuyếch tán tự động.

Ruột có chức năng hấp thụ, thuận lợi cho quá trình khuyếch tán và hấp thụ tích cực, kéo dài nhiều giờ. Phần lớn các chất độc được hấp thụ qua đường tiêu hoá sẽ đi vào trong các mao mạch, đến gan, có thể được thải vào mật và hấp thụ lại vào ruột.

– Hấp thụ qua daDa gồm 3 lớp : biểu bì, da, mô dưới da

  Xâm nhập của các chất độc qua da có thể bằng: Hấp thụ qua biểu bì do khuyếch tán qua màng lipit (các hợp chất không phân rã). Hấp thụ qua nang quanh chân lông. Xâm nhập tự do qua các vết tổn thương cơ học hoặc bệnh ngoài da.

  Sự thẩm thấu của chất độc phụ thuộc vào tính chất hòa tan trong mỡ, đặc tính phân cực, kích thước phân tử và tính phân rã.

* Vận chuyển chất độc:  Sau khi được hấp thụ vào cơ thể, chất độc sẽ vào máu, bạch huyết , hoặc vài thể dịch khác, tuy nhiên máu là đường vận chuyển chính. Trong máu chất độc có thể ở dạng tự do trong huyết tương hoặc kết hợp với hồng cầu hoặc thành phần trong huyết tương.

  Thí dụ: CO kết hợp với kẽm, As kết hợp với globin, thuỷ ngân vô cơ gắn với albumin, Cr kết hợp với protein huyết tương…

  Quá trình khử chất độc trong máu phụ thuộc vào tính ưa liên kết với các thành phần của máu.

* Sự phân bố và tích luỹ:  Cơ thể người được cấu tạo bởi nhiều mô, cơ quan và thể dịch nên chất độc được phân bố và tích luỹ ở các nhóm, các ngăn khác nhau.

– Sự phân bố đồng nhất trong thể dịch : các chất ở dạng cation hoá trị I, VI dễ khuyếch tán và phân bố đều trong thể dịch của các cơ quan.

– Bám vào hệ thống võng – nội mô của cơ quan : do khả năng giữ, nhận chìm hoặc phá huỷ các chất keo, các hạt, các vi sinh vật lạ, chủ yếu trong gan.

– Bám vào các mô mỡ: các chất hoà tan trong mỡ có ái lực lớn đối với các mô, cơ quan giàu lipit, chất béo, tuyến nội tiết, thần kinh

– Bám trên xương : nhiều chất độc có ái lực đặc biệt đối với xương : nguyên tố nhẹ, kiềm thổ, một số chất keo. Các chất này bám trên xương bằng cơ chế : trao đổi ion và hấp thụ chất keo trên bề mặt.

– Bám trên tóc và móng : Một số kim loại nặng (chì, kẽm, cadmi, thuỷ ngân, asen… có ái lực liên kết với tóc và móng).

* Quá trình thải chất độc:  Việc đào thải các chất độc từ các tế bào và cơ thể cũng diễn ra theo cùng một cơ chế như trong hấp thụ. Sự đào thải này phụ thuộc vào các tính chất của các chất độc, nồng độ và cách liên kết của chúng trong ngăn.

 – Sự đào thải chất độc từ cơ thể người có thể được thực hiện qua không khí thở ra, nước tiểu, mật, phân, sữa, tóc, da, nước bọt.  Đào thải qua đường hô hấp thích hợp với chất khí và chất bay hơi. Đào thải qua thận là con đường chính, theo cơ chế lọc tiểu cầu, vận chuyển chủ động qua ống thận và khuyếch tán thụ động theo ống.

–  Đào thải qua đường mật là con đường chính thức thứ hai. Các hợp chất thuỷ phân dễ dàng bị hấp thụ lại vào hệ tiếu hoá.  Một số kim loại nặng thải qua nước bọt nhờ quá trình khuyếch tán thụ động và thải nhờ tích tụ ở tóc.

–  Thải qua da phần lớn nhờ bài tiết mồ hôi.

Tác hại của một số hơi khí độc phổ biến. 

* Khí Clo (Cl2): Ở nồng độ thấp khí Clo kích thích niêm mạc và đường hô hấp, gây nên những cơn ho. Nhiễm độc cấp tính khí Clo gây nên những biến chứng nguy hiểm ở phổi, với nồng độ 3,2 mg/l gây chết người đột ngột.  Với nồng độ 0,03 mg/l khí Clo gây kích thích mạnh khí quản. Với nồng độ 0,16 mg/l tiếp xúc trong 30 phút sẽ gây nên phù phổi nguy hiểm.

* Khí Oxyt Cacbon (CO):  Khí CO tách ra trong quá trình đốt nhiên liệu như than, dầu, khí… là sản phẩm của sự cháy không hoàn toàn, khí CO cũng là sản phẩm của các động cơ đốt trong chạy xăng, dầu diezen. Khí CO không màu, không mùi và nhẹ hơn không khí. Khí CO xâm nhập vào cơ thể người, chiếm chỗ của O2 liên kết với Hemoglobine trong máu tạo thành HbCO (Carboxy Hemoglobin), gây giảm hồng cầu, giảm huyết sắc tố. Hít thở phải một lượng nhỏ CO, cảm thấy nhức đầu, chóng mặt; hít thở CO với nồng độ cao gây đau đầu, choáng váng, hôn mê, bất tỉnh, loạn nhịp tim và có thể tử vong. Nhiễm độc CO làm tổn thương cơ tim, hệ thần kinh, gây cơn đau tim.  Giới hạn nồng độ cho phép tiêu chuẩn vệ sinh (TCVS) trong sản xuất của khí CO là 30 mg/m3.

* Khí Oxyt Nitơ (NO2):  Khí NO2 kích thích mạnh đường hô hấp. Khi ngộ độc cấp tính NO2, thường gây ho dữ dội, nhức đầu, kèm theo rối loạn tiêu hóa. Trường hợp ngộ độc mãn tính NO2, gây viêm phế quản, kích thích niêm mạc mắt. Thời gian đầu cơ thể có cảm giác mệt mỏi, tăng thân nhiệt, da tái xanh, kèm theo các cơn rét run. Có thể phát hiện NO2 trong không khí, khi cơ quan hô hấp bị kích thích, sau vài giờ cảm thấy tức ngực, ho, khó thở, dần dần nghẹt thở. Giới hạn nồng độ cho phép TCVS trong sản xuất của NO2 là 5 mg/ m3

* Khí Sunfua Hydro (H2S):  Khí Sunfua Hydro là sản phẩm của các chất hữu cơ bị phân hủy. H2S là khí không màu, mùi trứng thối, có thể cảm nhận, phát hiện khi ở nồng độ rất thấp. Với nồng độ thấp trong không khí, H2S gây chảy nước mũi, hoa mắt. Ở nồng độ cao làm tổn thương đường hô hấp trên, gây ho và ngạt thở, có thể gây phù phổi dẫn đến tử vong. H2S cũng gây tổn thương hệ thần kinh trung ương với các triệu chứng: đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, ù tai.Giới hạn nồng độ cho phép TCVS của H2S là 10 mg/ m3

* Khí Amoniac (NH3):  Khí Amoniac được sử dụng trong sản xuất phân bón, chất dẻo, dệt, nhuộm và công nghệ lạnh. Khí Amoniac là khí không màu, có mùi khai, mùi sốc mạnh. Khí Amoniac gây kích thích niêm mạc của đường hô hấp hấp trên và mắt. Trong trường hợp bị ngộ độc, nạn nhân bị đau – xổ mũi, hắt hơi,  khô – rát và đau cổ họng, khàn – mất tiếng, ho và mệt toàn thân. Trường hợp ngộ độc với nồng độ cao NH3 gây bỏng nặng niêm mạc đường hô hấp trên, bỏng mắt nặng. Với nồng độ cao hơn nữa gây phù phổi, có thể dẫn đến tử vong. Giới hạn nồng độ cho phép TCVS của NH3 là 20 mg/ m3

 * Khí Anhydrit Sunfuarơ (SO2):  Khí SO2 là khí không màu, có mùi nồng nặc, tỷ trọng so với không khí là 2,264. Khí SO2gây tác hại đối với toàn bộ đường hô hấp, đồng thời tác hại đến các cơ quan tạo máu (tủy xương, lá lách). Ở nồng độ thấp dưới TCVS đã có thể ngừi thấy mùi; nồng độ vượt 2~3 lần TCVS gây khé cổ họng; nồng độ vượt 5 lần TCVS gây ho. Hít thở phải nồng độ cao gây khản tiến, đau-tức ngực, viêm nhánh khí quản. Nồng độ rất cao gây thở dốc, da xanh, viêm khí quản nặng và rối loạn nhanh trí não, dẫn đến tử vong do ngạt thở. Hít thở SO2 nồng độ không cao, nhưng vượt TCVS cho phép kéo dài gây nên bệnh mãn tính đường hô hấp, có thể cả bệnh dạ dày, mắt, răng và các bệnh về máu, gan. Khí SO2có thể gây biến chứng giãn phế quản và phù phổi. Giới hạn nồng độ cho phép TCVS của SO2 là 0,01 mg/l.

  * Formaldehyde:  (Dạng khí: Methanol, Methyl aldehyde, Methylene Oxide; dạng dung dịch: Formalin 30 – 50% Formaldehyde, 6 – 12% Methanol). Formaldehyde được sử dụng làm chất sát trùng, chất diệt nấm, bảo quản da; làm dịch ướp, sử dụng trong sản xuất sản phẩm cách điện, gỗ ép, hoặc làm dung môi, keo dán. Formaldehyde gây tác hại đến hệ hô hấp, da và mắt. Ở dạng khí Formaldehyde gây kích thích mũi, miệng, họng; ở nồng độ cao có thể gây phù phổi hoặc co thắt khí quản dẫn đến tử vong. Ở dạng lỏng Formaldehyde kích thích da, gây tê, bỏng, bỏng nặng dẫn đến tổn thương vĩnh viễn, gây bỏng mắt, tổn thương bỏng thường đến chậm sau vài giờ. Tác hại mãn tính: Formaldehyde gây đột biến gen, gây ung thư, gây dị ứng da, hen (khó thở, ho, đau thắt ngực), gây viêm phế quản.

  * Benzen và đồng đẳng:  Benzen và đồng đẳng (toluen, xylen) được sử dụng trong sản xuất hóa chất, hóa dược, xăng dầu, làm dung môi trong sản xuất sơn, keo dán…

  Tác hại cấp tính: liều thấp gây kích thích mắt, mũi, họng; liều cao gây choáng váng, đau đầu, chóng mặt nôn mửa, mê man; nồng độ cao hơn gây hôn mê, co giật, có thể gây tử vong.

  Tác hại mãn tính: gây rối loạn thần kinh (nhức đầu, chuột rút); gây tổn thương cơ quan tạo máu (tủy xương, lách); gây xuất huyết niêm mạc, xuất huyết dưới da, xuất huyết tại gan, thận, lách, não; gây thiếu máu giảm và biến dạng hồng cầu, giảm bạch cầu; gây ung thư (bệnh bạch huyết); gây quái thai, sảy thai, đẻ non; Benzen tích lũy ở não và tủy xương.

* Các dung môi hữu cơ (DMHC) khác:

  – DMHC béo và mạch thẳng (dẫn xuất của xăng dầu): gây kích thích niêm mạc, khô da, tiêu mỡ, suy nhược thần kinh, viêm phổi.

  – DMHC có halogen: DMHC có Clo tác động vào thần kinh trung ương, viêm da mãn tính, tiêu mỡ, gây tổn thương gan, thận; Clorua methylen gây tổn thương thần kinh trung ương, kích thích da, niêm mạc, gây ung thư; Trichloroethylene gây kích thích niêm mạc, gây tổn thương tế bào gan và tế bào ống thận.

  – Rượu: Rượu methilic gây kích thích da, niêm mạc, rối loạn thị giác, mù lòa, liều cao gây hôn mê và tử vong; Ethylen glycol gây tổn thương phủ tạng, suy thận cấp, liều cao gây tử vong.

  – Ete: gây suy nhược thần kinh trung ương; Ethylen oxyde gây kích thích da, niêm mạc, liều cao gây bệnh não, nhiễm độc tinh trùng, sinh quái thai, đột biến gen và ung thư ở súc vật.

Các biện pháp kiểm soát hoá chất độc

a. Các biện pháp kiểm soát kỹ thuật – công nghệ 

– Thay đổi, sử dụng thiết bị, công nghệ tiên tiến đảm bảo ATVSLĐ

– Loại trừ hoặc thay thế hóa chất độc bằng các loại hóa chất ít độc hơn

– Quy định, thiết lập khoảng cách an toàn tiếp xúc với hóa chất và bao che máy, thiết bị công nghệ hóa chất.

– Sử dụng biện pháp thông gió pha loãng, hút hơi khí bụi độc khỏi vùng hít thở của người lao động.

b. Các biện pháp kiểm soát hành chính

          – Nhận diện hóa chất

          – Dán nhãn và đánh dấu

          – Dữ liệu an toàn hóa chất

          – Bảo quản an toàn hóa chất

          – Vận chuyển an toàn hóa chất

          – An toàn trong quản lý và sử dụng hóa chất

          – Thu gọn và xử lý, thải bỏ hóa chất

          – Kiểm soát sự tiếp xúc

          – Kiểm tra sức khỏe

          – Huấn luyện và đào tạo.

c. Các biện pháp kiểm soát sử dụng Phương tiện bảo vệ cá nhân

Sử dụng các phương tiện cá nhân bảo vệ cơ quan hô hấp: khẩu trang, bán mặt nạ, mặt nạ lọc hơi khí bụi độc thích hợp; cũng như các phương tiện bảo vệ khác: kính, mặt chắn, tạp dề, găng tay, giầy ủng chống hóa chất.

d. Kế hoạch ứng phó với tình huống khẩn cấp

– Công tác cấp cứu

– Phòng cháy chữa cháy hoá chất

– Xử lý sự cố rò rỉ hoặc tràn đổ hoá chất.

TS. Nguyễn Thế Công


(Nguồn tin: Nilp.vn)