Tại sao hoá chất lại được sử dụng tại nơi làm việc một cách rộng rãi?

Thứ Sáu, 01/12/2023, 04:25(GMT +7)

Chưa có một biện pháp đáng tin cậy nào để xác định một cách chính xác, hiện trên thế giới có bao nhiêu hoá chất được sử dụng và có bao nhiêu người lao động (NLĐ) đang tiếp xúc với chúng.

Chưa có ảnh

Hoá chất luôn gắn liền với công nghiệp hoá dầu, công trình xây dựng hoặc sản xuất  ô tô-xe máy.  Một số hoá chất tiêu biểu như sơn, vec ni, keo dính, tinh thể silic, khói hàn là những thứ mà NLĐ có thể thường xuyên tiếp xúc tại nơi làm việc tại các công trường xây dựng.

Tuy nhiên, thực chất là mỗi một loại hình công việc của một ngành sản xuất lại sử dụng hoá chất khác nhau, vì vậy NLĐ tiếp xúc hoá chất cũng rất đa dạng. Trong khi đã có rất nhiều nỗ lực đưa ra để xử lý các tình huống, các trường hợp riêng biệt cũng rất đa dạng với các mức độ tiếp xúc và lượng hoá chất khác nhau, do vậy không có ngành nghề nào được coi là ngoại lệ để không cần kiểm soát hoặc phòng ngừa độc hại. Ví dụ gần đây người ta quan tấm đến các hoá chất sử dụng trong làm tóc và sơn móng tay (như chất methyl methacrylate). Nhiều hoá chất trong đó rất độc, nhất là khi sử dụng chúng mà không hề có các biện pháp phòng ngừa hoặc bảo vệ như thông gió, các phương tiện bảo vệ hoặc tập huấn cho NLĐ. Khách hàng là những người tuy có tiếp xúc nhưng chỉ thời gian ngắn và không thường xuyên, còn những người phục vụ ở đó thì tiếp xúc với hoá chất nhiều ngày và liên tục. Ngay cả các phòng in cũng tiếp xúc nhiều với các dung môi và mực in. Những người làm nghề lau dọn trong các văn phòng cũng thường xuyên tiếp xúc với hoá chất.

Một số ngành nghề có ảnh hưởng đặc biệt tới môi trường do vậy phải xem xét khi xây dựng các chương trình phòng ngừa. Ví dụ: ngành nông nghiệp, thuốc trừ sâu dùng để bảo vệ mùa màng thì ngay lập tức sẽ ảnh hưởng tới môi trường khí, môi trường nước hoặc tồn tại trong đất rất nhiều năm.  NLĐ là người tiếp xúc trực tiếp nhưng nguy cơ tiếp xúc thì phải tính đến cả cộng động xung quanh. Công ước của ILO về an toàn và sức khoẻ trong nông nghiệp số 184 và khuyến nghị số 192 năm 2001 cung cấp các biện pháp đánh giá rủi ro và quản lý hoá chất an toàn trong nông nghiệp.

Rất khó có thể xác định được trên toàn cầu có bao nhiêu hoá chất tại nơi làm việc; lại càng phức tạp hơn khi các hoá chất đó trộn lẫn vào nhau thành các hợp chất. Các hợp chất đó có thể được trộn vào một cách chủ ý để tạo ra các thương phẩm.  Tuy nhiên khi xem xét các các chương trình phòng chống cho nơi làm việc cũng cần giả định rằng các pha trộn hoá chất không chủ ý tại nơi làm việc cũng có thể gây ra phát tán nguy hại tại chỗ. Trong khi các hoá chất riêng rẽ đã không được đánh giá một cách tương xứng về mặt an toàn và sức khoẻ thì các hợp chất của chúng lại càng ít được xem xét và đánh giá một cách cẩn trọng. Phần lớn NLĐ là tiếp xúc với các hợp chất  hơn là các hoá chất riêng rẽ vì vậy việc kiểm soát sự tiếp xúc với các hợp chất là cực kỳ quan trọng trong các chương trình phòng ngừa hoá chất.

Tốc độ phát minh và nghiên cứu để sản xuất và sử dụng hoá chất thì rất nhanh chóng nhưng tốc độ nghiên cứu khía cạnh an toàn và sức khoẻ đối với các hoá chất này thì chậm hơn nhiều. Công nghệ nano là một ví dụ rất điển hình. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành thí nghiệm với các cấu trúc có kích thước từ 1 đến 100 nanomet. Với kích thước vô cùng nhỏ này, vật liệu đã thể hiện các tính chất vật lý, hoá học và sinh học rất đặc biệt. Và những tính chất đặc biệt này đã được sử dụng để sản xuất ra những sản phẩm mới dùng trong dược phẩm, mỹ phẩm và công nghiệp chế tạo máy. Tuy nhiên những tính chất này của vật liệu cũng có thể ảnh hưởng lên sức khoẻ con người tiếp xúc với nó. Với kích thước vô cùng nhỏ bé của vật liệu, nó có thể làm tăng nguy cơ đối với NLĐ. Trong một số trường hợp, mặc dù người ta đã biết ảnh hưởng tới sức khoẻ của loại vật liệu thông thường và đã có biện pháp phòng ngừa thì việc sử dụng vật liệu nano có thể tạo ra các nguy cơ mới và do đó cần các biện pháp phòng ngừa và bảo vệ mới. Tuy nhiên cũng như mọi phát minh ra công nghệ hoặc vật liệu mới, sản xuất bao giờ cũng đi trước, các yếu tố nguy hại sẽ được đánh giá sau. Do vậy NLĐ luôn bị đặt trong tình huống tiếp xúc với các yếu tố nguy hại mà không nhận biết được. Chính vì vậy, rất nhiều các nghiên cứu về an toàn và sức khoẻ đối với vật liệu nano đã và đang được thực hiện  ở nhiều nước, nhất là trong khối EU, OEDC và Mỹ. Chính phủ một số nước còn xây dựng các tổ đặc nhiệm để đánh giá tiềm năng ảnh hưởng của vật liệu nano, phân loại nguy hại, đánh giá rủi ro và xác định các tiêu chí để quản lý. Các tổ chức khoa học và môi trường còn cung cấp các tư vấn về các vấn đề liên quan đến công nghệ nano và môi trường.


(Nguồn tin: ILO)